Cơ chế phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan tư pháp hình sự - Thực tiễn và các định hướng hoàn thiện
Tóm tắt: Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, sự phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan tư pháp hình sự là rất quan trọng, có sự ảnh hưởng lớn đến tiến độ, đường lối và hiệu quả giải quyết các vụ việc hình sự. Bài viết đánh giá thực trạng về quan hệ phối hợp – kiểm soát giữa các cơ quan tư pháp hình sự khi thực thi chức năng, nhiệm vụ trong quá trình giải quyết vụ án hình sự và đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật.

Từ khóa: cơ quan tư pháp hình sự; phối hợp - kiểm soát; vụ án hình sự

 

Là một trong những cơ quan thực hiện quyền tư pháp trong hệ thống Bộ máy nhà nước ta, các cơ quan tư pháp hình sự tham gia vào các giai đoạn tố tụng hình sự thực hiện chức năng, nhiệm vụ giải quyết các vụ án hình sự. Các quan tư pháp hình sự (CQTPHS) gồm: Cơ quan điều tra (CQĐT), Viện kiểm sát (VKS), Thi hành án (bao gồm cả Cơ quan thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an và Cơ quan thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp). Ngoài các CQTPHS còn có một số cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra như: Hải quan, kiểm lâm, bộ đội biên phòng, cảnh sát biển, kiểm ngư…; hệ thống Công an các xã tham gia tiếp nhận các nguồn tin báo, tố giác tội phạm; hệ thống Ủy ban nhân dân các xã tham gia quá trình giám sát thi hành án hình sự đối với các đối tượng được hưởng án treo, cải tạo không giam giữ. Việc thực hiện phối hợp và kiểm soát lẫn nhau giữa các CQTPHS và một số cơ quan khác trong quá trình giải quyết vụ án hình sự là rất quan trọng, được quy định cụ thể trong chức năng, nhiệm vụ của từng ngành tại Hiến pháp, Bộ luật Tố tụng hình sự, các Luật Tổ chức Công an nhân dân, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Luật Thi hành án dân sự, Luật thi hành án hình sự… và các Thông tư liên ngành về quan hệ phối hợp. Trong khi thực hiện chức năng nhiệm vụ của mỗi ngành, các CQTPHS đều có sự độc lập, tuân theo pháp luật và chịu sự kiểm soát lẫn nhau trong việc thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình. Đồng thời các CQTPHS còn thực hiện việc phối hợp chặt chẽ để đạt hiệu quả chung là giải quyết vụ án hình sự đúng đắn, nhanh chóng, kịp thời xử lý nghiêm minh mọi hành vi phạm tội và tội phạm, không xảy ra oan sai, bỏ lọt tội phạm.

            Bên cạnh việc kiểm soát, phối hợp giữa các CQTPHS với nhau trong quá trình giải quyết vụ án hình sự còn có sự kiểm soát của các cơ quan Đảng với vai trò cấp ủy địa phương, lãnh đạo, chỉ đạo các chi bộ trực thuộc trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của từng ngành và với cơ quan thuộc nhóm quyền lập pháp ở địa phương (Hội đồng nhân dân các cấp) để phục vụ nhiệm vụ chính trị địa phương.

            Việc kiểm soát, phối hợp giữa các CQTPHS ở nước ta thực hiện đa chiều, đa cơ quan với nhiều phương pháp, cách thức khác nhau như: dọc, ngang chéo giữa các ngành với nhau, cụ thể:

1. Các quy định pháp luật về kiểm soát, phối hợp giữa các cơ quan tư pháp hình sự

Cơ chế kiểm soát và phối hợp giữa các CQTPHS được xây dựng trên nền tảng các văn bản pháp luật và các Quy chế phối hợp trong từng lĩnh vực cụ thể. Các CQTPHS đều thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình trên cơ sở các quy định chung tại Hiến pháp, Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS). Bên cạnh hệ thống các văn bản pháp luật quy định chung thì mỗi ngành tư pháp hình sự còn phải tuân thủ các quy định riêng về cơ cấu, tổ chức như Luật Công an nhân dân, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Luật Thi hành án dân sự, Luật thi hành án hình sự… Trên cơ sở luật tổ chức của từng ngành sẽ quy định cụ thể các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mỗi ngành tư pháp hình sự trong quá trình giải quyết các vụ việc hình sự đòi hỏi các CQTPHS phải xây dựng cơ chế phối- kết hợp với nhau để đảm bảo tiến độ giải quyết vụ án và đường lối xử lý đúng quy định pháp luật. Đồng thời để tránh sai sót, vi phạm pháp luật của các cơ quan tố tụng và các cơ quan khác liên quan thì những CQTPHS cũng xây dựng cơ chế kiểm soát lẫn nhau trong khi thực hiện nhiệm vụ để cùng thực hiện mục tiêu giải quyết các vụ án hình sự  khẩn trương, nhanh, gọn, chính xác, đúng quy định pháp luật, có tình có lý, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của người yếu thế trong tố tụng hình sự và góp phần đảm bảo quyền con người.

Từ khi BLTTHS năm 2015 được ban hành, có hiệu lực từ ngày 01/07/2016 đến nay, các CQTPHS xây dựng nhiều văn bản pháp luật thể hiện cơ chế, phối hợp trong quá trình giải quyết các vụ việc hình sự dưới dạng Thông tư liên tịch[1] và tùy từng ngành, tùy đặc điểm tình hình ở mỗi địa phương khác nhau, các ngành sẽ xây dựng các văn bản dưới dạng Quy chế phối hợp giữa các ngành hai cấp để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình như: Quy chế phối hợp 01/2019/QCPH-CA-VKS-TA  ngày 30/9/2019 về quy chế phối hợp CQĐT, VKS, Tòa án Hải Phòng trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự…

            Nghiên cứu các quy định của BLTTHS và chức năng nhiệm vụ của các ngành tư pháp hình sự thấy cơ chế phối hợp và kiểm soát giữa các CQTPHS ở nước ta tương đối chặt chẽ, ràng buộc lẫn nhau trong quá trình tố tụng thông qua cơ chế kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân với chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp. Theo đó, VKS sẽ kiểm sát hoạt động của CQĐT, Tòa án, Cơ quan thi hành án (các CQTPHS) trong việc giải quyết, xử lý người phạm tội và chấp hành các Bản án, Quyết định có hiệu lực pháp luật. Vậy có cơ quan nào kiểm sát lại hoạt động của VKS không? Theo quy định của Hiến pháp thì VKS phải báo cáo trước Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp về việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình. Do đó, có thể hiểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp sẽ là những cơ quan thực hiện việc giám sát hoạt động của VKS. Bên cạnh đó, các hoạt động của VKS khi thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp cũng bị các cơ quan tố tụng khác kiểm tra giám sát lại thông qua các quy định của BLTTHS như: CQĐT và Cơ quan Thi hành án đều có quyền kiến nghị lên VKS cấp trên nếu VKS cấp dưới thực hiện không đúng pháp luật, đưa ra các yêu cầu hoặc quyết định không có căn cứ. Tòa án có quyền trả lại hồ sơ cho VKS và CQĐT để điều tra bổ sung lại, thu thập thêm các tài liệu chứng cứ nếu thấy việc thu thập tài liệu, chứng cứ của CQĐT, VKS còn thiếu, việc đánh giá chứng cứ chưa chính xác còn lọt hành vi phạm tội, tội phạm. Tòa án và VKS cấp trên đều có quyền kháng nghị đối với Bản án, Quyết định của Tòa án cấp dưới khi có vi phạm pháp luật nghiêm trọng; có quyền kiến nghị đối với các cơ quan cấp dưới và ngang cấp khi có vi phạm pháp luật ít nghiêm trọng…

2. Các cách thức kiểm soát, phối hợp giữa các cơ quan tư pháp hình sự

            Việc kiểm soát, phối hợp giữa các CQTPHS được thực hiện theo cơ chế đa chiều với nhiều cách khác nhau, cụ thể:

            Một là, theo chiều dọc: giữa cấp trên với cấp dưới trong cùng ngành với nhau theo cơ chế kiểm tra, thông tin, báo cáo trong ngành.

            Hai là, theo chiều ngang: giữa các CQTPHS cùng cấp với nhau theo chức năng nhiệm vụ của các ngành. Hoặc giữa các CQTPHS với các cơ quan Đảng, chính quyền địa phương. Như trên đã nêu, VKS kiểm sát hoạt động điều tra, xét xử, thi hành án của các CQTPHS cùng cấp. Trong hoạt động của mình các cơ quan khác cũng có quyền kiểm soát lại VKS thông qua các hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ của ngành khi giải quyết vụ án hình sự…

            Ba là, theo kiểu kiểm tra chéo: giữa cấp trên ngành này với cấp dưới ngành khác hoặc giữa cơ quan Đảng, cơ quan nhà nước ở địa phương với các CQTPHS. Các CQTPHS cấp trên có quyền kiểm tra, rút kinh nghiệm việc thực hiện nhiệm vụ của cấp dưới khi thấy có dấu hiệu sai sót hoặc vi phạm pháp luật...

3. Nội dung kiểm soát, phối hợp giữa các cơ quan tư pháp hình sự

3.1 Giữa Cơ quan điều tra với Viện kiểm sát

            Hoạt động kiểm soát, phối hợp với giữa CQĐT và VKS được thể hiện rõ nhất trong việc thực hiện các chức năng điều tra, thực hành quyền công tố kiểm sát hoạt động điều tra của hai cơ quan trên khi thực hiện các quy định của BLTTHS trong các giai đoạn tố tụng như: hoạt động tiếp nhận, giải quyết tin báo tố giác tội phạm và kiến nghị khởi tố; hoạt động VKS phê chuẩn các lệnh, quyết định của CQĐT; hoạt động thực hiện các yêu cầu điều tra của VKS; hoạt động kiểm sát kết thúc điều tra... Cụ thể:

            Trong giai đoạn tin báo: Theo BLTTHS quy định VKS không có thẩm quyền kiểm sát Công an cấp xã trong hoạt động việc tiếp nhận nguồn tin về tố giác tội phạm. Nhưng VKS có quyền kiểm sát CQĐT trong việc tiếp nhận, giải quyết mọi nguồn tin, tố giác tội phạm trong đó có nguồn tin từ Công an cấp xã chuyển đến nên VKS tiến hành kiểm sát việc việc tiếp nhận nguồn tin về tố giác tội phạm của Công an xã qua CQĐT. Có nhiều đơn vị xây dựng Quy chế phối hợp, CQĐT và VKS cùng phối hợp nắm nguồn tin thông qua hoạt động kiểm tra bắt xét (kiểm tra hành chính giữa cấp trên với cấp dưới trong ngành Công an) để nắm bắt và kiểm sát các căn cứ bắt giữ của Công an cấp dưới. Thông qua các kỳ kiểm sát trực tiếp hàng năm VKS sẽ kiểm sát toàn bộ hoạt động tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác tội phạm của CQĐT. Nếu phát hiện sai phạm VKS sẽ ban hành kiến nghị hoặc kháng nghị tùy từng tính chất mức độ nghiêm trọng sai phạm của CQĐT để buộc dừng ngay với vi phạm nghiêm trọng hoặc khắc phục các vi phạm ít nghiêm trọng.

            Trong giai đoạn điều tra: ngay sau khi CQĐT phát hiện hành vi phạm tội, VKS đã phối hợp cùng CQĐT tiếp cận tài liệu, hồ sơ, cùng tham gia một số hoạt động điều tra với CQĐT như gặp hỏi người tố giác, người bị tố giác, người bị thiệt hại, người chứng kiến để cùng CQĐT đánh giá chứng cứ, phân loại đối tượng trước khi áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ hình sự hoặc phê chuẩn lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp. Quá trình điều tra, CQĐT có trách nhiệm thực hiện các yêu cầu điều tra của VKS. Đối với các yêu cầu điều tra không có căn cứ, không thực hiện được hoặc vô lý thì CQĐT vẫn thực hiện và báo cáo lên VKS cấp trên xem xét việc VKS cùng cấp đề ra các yêu cầu điều tra không có khả năng thực thi. Ở giai đoạn chuẩn bị kết thúc điều tra, CQĐT và VKS mà cụ thể là Điều tra viên và Kiểm sát viên sẽ phối hợp thực hiện việc tổng cung trước khi kết thúc điều tra và cùng đánh giá chứng cứ thống nhất các vấn đề trong vụ án để kết thúc điều tra hoặc gia hạn thời hạn điều tra.

            Trong giai đoạn truy tố: trong giai đoạn này có một số vấn đề chưa được điều tra triệt để trong giai đoạn điều tra hoặc do phát sinh mới mà không phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung thì theo Thông tư 04/2018 về quan hệ phối hợp nêu trên thì CQĐT vẫn tiến hành các hoạt động điều tra và chuyển những tài liệu này cho VKS để đảm bảo việc giải quyết vụ án đúng tiến độ điều tra.

            Trong giai đoạn xét xử: tương tự như giai đoạn truy tố, ở giai đoạn xét xử có một số vấn đề chưa được điều tra triệt để hoặc do có quan điểm khác nhau về đánh giá chứng cứ hoặc còn vướng mắc về pháp luật giải quyết mà không thuộc trường hợp trả hồ sơ điều tra bổ sung thì CQĐT vẫn tiến hành các yêu cầu của Tòa án và chuyển đến Tòa án, VKS để giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

            Có rất nhiều văn bản pháp luật thể hiện hoạt động kiểm soát, phối hợp với giữa CQĐT và VKS trong khi giải quyết vụ án hình sự. Thông thường, CQĐT sẽ thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình được quy định trong BLTTHS. Đối với một số trường hợp phức tạp, khó khăn trong việc đánh giá chứng cứ, xác định tội danh, phân hóa vai trò của các đối tượng để lựa chọn đường lối xử lý thì các cơ quan tố tụng CQĐT, VKS, Tòa án tiến hành tổ chức họp liên ngành cùng cấp hoặc hai cấp hoặc ba cấp để đánh giá chứng cứ, phân loại đối tượng trước khi tiến hành khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can.

            Nghiên cứu các quy định của BLTTHS hiện hành thấy có nhiều nội dung bất cập, không phù hợp với thực tiễn, gây khó khăn cho các cơ quan tố tụng khi giải quyết vụ án hình sự thậm chí có quy định ở văn bản có hiệu lực thấp hơn trái với quy định của BLTTHS. Ví dụ BLTTHS quy định một số hoạt động điều tra không được tiến hành ở giai đoạn giải quyết tin báo tố giác tội phạm như đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói… nhưng Thông tư 28/2020/TT-BCA ngày 26/3/2020 của Bộ Công an lại cho phép CQĐT cấp dưới tiến hành những hoạt động này. Mặc dù Thông tư 28/2020/TT-BCA ngày 26/3/2020 của Bộ Công an hướng dẫn trái với các quy định của BLTTHS nhưng lại phù hợp với thực tiễn xử lý các vụ án hình sự đặc biệt đối với những vụ án thuộc trường hợp bắt xét hoặc phê chuẩn lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, nếu không nhận dạng, đối chất thì không có căn cứ để xác định có phải người thực hiện hành vi phạm tội hay không? Cần sửa đổi những quy định này để tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, tránh những tranh luận không cần thiết với những người tham gia tố tụng khác cho rằng các cơ quan tố tụng có hành vi vi phạm tố tụng.

3.2 Giữa Viện kiểm sát với Tòa án

Mối quan hệ phối hợp và kiểm soát giữa VKS với Tòa án cũng tương tự như với CQĐT được quy định tương đối rõ ràng, cụ thể trong BLTTHS khi giải quyết vụ án hình sự. VKS có chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án, Hội đồng xét xử; có quyền kiến nghị, kháng nghị đối với các quyết định, Bản án của Tòa án khi có vi phạm pháp luật hoặc có sai sót trong việc đánh giá chứng cứ, quyết định hình phạt. Ngược lại, Tòa án cũng có quyền trả hồ sơ điều tra bổ sung cho VKS để kiểm soát lại việc đánh giá chứng cứ của VKS trong quá trình giải quyết vụ án hình sự khi có bị cáo kêu bị oan hoặc có dấu hiệu sai sót trong việc đánh giá chứng cứ, bỏ lọt tội phạm. Trường hợp VKS giữ nguyên quan điểm, Tòa án vẫn trái quan điểm thì có quyền kiến nghị trong Bản án. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do hệ thống pháp luật của nhà nước ta thiếu đồng bộ, chồng chéo, còn nhiều vấn đề chưa rõ ràng nên còn nhiều quan điểm nhận thức pháp luật khác nhau. Bên cạnh đó cũng có một phần nào việc thể hiện chức năng, quyền hạn của mỗi ngành trong hoạt động tố tụng hình sự.

Đối với một số trường hợp Tòa án, VKS có quan điểm đánh giá chứng cứ khác nhau hoặc trường hợp bị cáo kêu oan thì Tòa án, VKS hai cấp phối hợp tổ chức họp liên ngành để đánh giá chứng cứ, giải quyết các khó khăn, vướng mắc trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Hiện tại, có một số địa phương đã tổ chức thực hiện việc trao đổi, hướng dẫn các vấn đề còn vướng mắc, có nhiều cách hiểu khác nhau để kịp thời tháo gỡ những bất cập trong hoạt động áp dụng pháp luật.

Như vậy, việc kiểm soát, phối hợp giữa Tòa án với VKS tương đối chặt chẽ, được quy định trong BLTTHS và các văn bản hướng dẫn thi hành.

3.3 Giữa Viện kiểm sát với Cơ quan Thi hành án

Hoạt động kiểm soát, phối hợp giai đoạn thi hành được chia làm 02 nhóm. Nhóm thi hành án hình sự được thể hiện thông qua công tác kiểm sát tạm giữ, tạm giam, chấp hành án phạt tù với các hệ thống nhà tạm giữ, lưu giam, trại tạm giam, Trại giam thuộc Ngành Công an quản lý và công tác kiểm sát thi hành án treo, cải tạo không giam giữ do Ủy ban nhân dân cấp xã giám sát, quản lý. Nhóm thi hành án dân sự được thể hiện thông qua công tác kiểm sát thi hành án dân sự đối với việc thi hành các phần hình phạt bổ sung, án phí, bồi thường dân sự, xử lý vật chứng trong bản án đã tuyên có hiệu lực pháp luật của hệ thống Cơ quan Thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp.

Do hệ thống các cơ quan thi hành án khác nhau nên khi thực hiện chức năng kiểm sát VKS cũng chia thành các bộ phận khác nhau để theo dõi, thống kê và phù hợp với 2 đạo  luật Thi hành án hình sự, Thi hành án dân sự. Cụ thể: Phòng Kiểm sát tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự (Phòng 8), Phòng kiểm sát thi hành án dân sự (Phòng 11) với những biện pháp phối hợp và kiểm soát khác nhau.

3.3.1 Với các Cơ quan Thi hành án hình sự và UBND các xã

VKS xây dựng kế hoạch kiểm sát trực tiếp việc tạm giữ (theo ngày, tháng, quý, năm, đột xuất), tạm giam (theo quý, năm, đột xuất), chấp hành án phạt tù hoặc chấp hành án treo, cải tạo không giam giữ (theo quý, năm). Theo đó, hàng ngày VKS cử cán bộ sang nhà tạm giữ, lưu giam để kiểm tra các căn cứ tạm giữ, tạm giam và việc chấp hành án phạt tù (đối với một số phạm nhân được cải tạo tại Nhà tạm giữ, lưu giam để phục vụ các hoạt động bình thường của cơ sở này) có chấp hành đúng các chế độ ăn, uống, nghỉ ngơi, lao động, học tập, thăm gặp… được quy định trong Luật thi hành tạm giữ, tạm giam và Luật thi hành án hình sự.

VKS cũng phối hợp tham gia Hội đồng xét giảm thi hành án cùng với Tòa án và các Trại giam trên địa bàn để tạo điều kiện cho người phạm tội được hưởng chính sách khoan hồng của nhà nước và sớm được tái hòa nhập cộng đồng. Quá trình kiểm sát, nghiên cứu các hồ sơ thi hành án thấy căn cứ xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù, diện đối tượng được xét giảm, chế độ tạm giữ, tạm giam… chưa đảm bảo thì không chấp nhận, kiến nghị với Tòa án, Trại Giam về những thiếu sót, sai phạm ít nghiêm trọng, kháng nghị đối với những vi phạm nghiêm trọng hoặc nhắc nhở đối với sai phạm, thiếu sót không đáng kể hoặc do lỗi hành chính tư pháp.

VKS cũng tiến hành kiểm sát việc giám sát của UBND cấp xã đối với các bị án treo, cải tạo không giam giữ trên địa bàn. Việc giám sát phải tiến hành nghiêm túc trong 3 tháng/lần. Khi kiểm tra phát hiện các bị án chấp hành hình phạt tù cho hưởng án treo nếu vi phạm từ 2 lần trở lên thì các cơ quan đề nghị bắt lại các đối tượng này buộc phải chấp hành án giam. Từ đó, cũng tăng cường trách nhiệm của UBND cấp xã đối với việc giám sát, quản lý, giáo dục các đối tượng cải tạo ngoài xã hội.

Quá trình thực hiện chức năng nhiệm vụ VKS và các cơ quan thi hành án hình sự, UBND cấp xã thường xuyên phối hợp nắm bắt tình hình của từng ngành, nếu có khó khăn vướng mắc cùng tổ chức họp đánh giá và đưa ra các biện pháp tháo gỡ cụ thể. Cùng xây dựng Quy chế phối hợp với sự tham gia của các cơ quan thuộc Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam các cấp cùng tham gia các Đoàn kiểm tra, giám sát trực tiếp tại các cơ sở giam giữ để đảm bảo tính khách quan, thận trọng trong các hoạt động này, hạn chế thấp nhất việc sai sót, bảo đảm quyền con người đặc biệt là những người bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành án phạt tù.

            3.2.2 Với các Cơ quan Thi hành án dân sự

Việc phối hợp, kiểm soát giữa Cơ quan Thi hành án hình sự với VKS chủ yếu trong các hoạt động xử lý vật chứng các vụ án hình sự, thi hành phần án phí, hình phạt bổ sung là phạt tiền, vấn đề dân sự và biện pháp tư pháp khác trong vụ án hình sự. Định kỳ, VKS tiến hành kiểm sát trực tiếp tại Cục/Chi cục Thi hành án dân sự cùng cấp để kiểm tra, tổng hợp những thiếu sót, sai phạm trong hoạt động thi hành án dân sự. VKS cũng phối hợp với Cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp trong hoạt động xác minh điều kiện thi hành án của các đối tượng phải thi hành án để làm căn cứ miễn, giảm hoặc cưỡng chế thi hành án. Việc tổ chức cưỡng chế thi hành án khi người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án, có biểu hiện chống đối thì Cơ quan Thi hành tổ chức xây dựng kế hoạch cưỡng chế thi hành án chi tiết, cụ thể. Đồng thời cũng tranh thủ ý kiến góp ý của VKS và cơ quan Công an (lực lượng Cảnh sát hỗ trợ tư pháp) để đảm bảo việc cưỡng chế thi hành án an toàn, hiệu quả.

Quá trình kiểm sát thi hành án dân sự nếu phát hiện các sai sót nhỏ, mang tính chất thủ tục hành chính thì VKS chủ động nhắc nhở các chấp hành viên của Cơ quan Thi hành án sửa chữa, khắc phục. Đối với những vi phạm ít nghiêm trọng mang tính hệ thống thì tập hợp để kiến nghị chung. Đối với vi phạm nghiêm trọng thì VKS sẽ kháng nghị buộc dừng ngay việc thi hành án để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và tuân thủ đúng quy định pháp luật.

3.4 Giữa các cơ quan tư pháp hình sự với cơ quan Đảng, chính quyền địa phương

Việc thực phối hợp kiểm soát giữa các cơ quan tư pháp hình sự với các cơ quan Đảng, chính quyền dựa trên các quy định của Hiến pháp thì VKS, Tòa án phải báo cáo công tác của mình trước Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp nên hàng năm VKS, Tòa án vẫn thực hiện báo cáo kết quả hoạt động của mình đến các cơ quan chính quyền ở địa phương. Việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của các ngành tư pháp ở địa phương là độc lập và tuân theo quy định của pháp luật. Tùy từng địa phương sẽ xây dựng Quy chế phối hợp giữa các cơ quan nội chính (Công an, VKS, Tòa án, Cơ quan Thi hành án, Tư pháp, Thanh tra) để cùng thực hiện nhiệm vụ tham mưu cho cấp ủy địa phương, đảm bảo an ninh trậ tự, an toàn xã hội và thực hiện tốt chức năng của mỗi ngành. Tại các buổi giao ban tháng/quý (tùy từng đơn vị bố trí theo thời gian nhất định), thường trực cấp ủy địa phương sẽ tổ chức cuộc họp khối nội chính. Theo đó, các đơn vị nội chính bao gồm các cơ quan tư pháp hình sự sẽ phát biểu nêu lên những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình và liên quan đến công tác phối hợp với các ngành khác. Trên cơ sở đó, với vai trò lãnh đạo cơ quan cấp ủy địa phương sẽ thống nhất các biện pháp để các cơ quan nội chính, cơ quan tư pháp hình sự thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình tránh tình trạng quyền anh, quyền tôi giữa các ngành.

Tuy nhiên, thực hiện nguyên tắc Đảng lãnh đạo nên cơ chế kiểm tra, giám sát của các cơ quan Đảng với các cơ quan tư pháp hình sự lại theo chiều ngang (các Chi bộ cơ sở trực thuộc cấp Ủy địa phương quản lý) nên trong công tác điều động, luân chuyển cán bộ lãnh đạo thuộc các cơ quan tư pháp hình sự phải được “Hiệp y” với cấp ủy địa phương. Tình trạng này ở một số địa phương cục bộ sẽ cản trở hoạt động tổ chức cán bộ của các ngành tư pháp hình sự trong việc bố trí, sắp xếp nhân lực để thực hiện nhiệm vụ của ngành.

            4. Một số định hướng hoàn thiện pháp luật

            Một là, cơ chế kiểm soát, phối hợp lẫn nhau giữa các cơ quan tư pháp hình sự ở nước ta tương đối chặt chẽ, với nhiều cách thức, đa dạng hạn chế được tình trạng bao che sai phạm giữa cấp trên với cấp dưới. Việc xây dựng mô hình cơ quan cấp trên trực tiếp quản lý về chuyên môn còn cấp ủy địa phương quản lý về Đảng đã bộc lộ những hạn chế khi nhà nước ta thực hiện các biện pháp luân chuyển, điều động cán bộ chống phe cánh, lợi ích nhóm trong công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng. Một số nơi đã có biểu hiện lợi dụng mối quan hệ ngang, dọc để cô lập hoặc gây khó khăn cho người địa phương khác đến làm việc khi thực hiện quy trình hiệp y công tác cán bộ thuộc diện luân chuyển, điều động. Do đó, cần cơ cấu mô hình quản lý lại đối với một số ngành tư pháp độc lập theo mô hình độc lập trong cả hoạt động chuyên môn lẫn công tác Đảng.

Hai là, hệ thống pháp luật hiện hành giao quyền kiểm sát hoạt động tư pháp cho VKS nhưng chỉ là giao quyền năng kiến nghị, kháng nghị còn việc thực hiện các kiến nghị, kháng nghị thế nào thì tùy thuộc vào cơ quan khác mà chưa có chế tài nào ràng buộc. Việc đánh giá chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án hình sự giữa Tòa án và VKS khác nhau có kháng nghị. Kết quả kháng nghị bị hủy hoặc sửa án hình sự mà có lỗi của Kiểm sát viên hoặc Thẩm phán hiện đã được tổng hợp đưa vào đánh giá năng lực chuyên môn khi xem xét tái bổ nhiệm Kiểm sát viên, Thẩm phán. Đối với việc kiến nghị của VKS đối với các cơ quan tư pháp hình sự khác hoặc kiến nghị với Tòa án trong bản án chỉ được quy định mang tính hình thức còn việc thực hiện thế nào thì tùy vào cơ quan bị kiến nghị. Luật tổ chức VKS nhân dân có quy định thời hạn các cơ quan bị kiến nghị trả lời các kiến nghị của VKS trong thời hạn 15 ngày. Việc các cơ quan bị kiến nghị có trả lời hay không và có thực hiện các nội dung kiến nghị của VKS thì không có chế tài quy định nên thực chất việc kiến nghị các vi phạm không hiệu quả. Đồng thời hệ thống thanh tra ngành dọc cũng không có cơ chế phối hợp với VKS trong việc thực hiện các kiến nghị vi phạm pháp luật nên vẫn còn tình trạng sai sót mang tính hệ thống.

Ba là, xây dựng cơ chế phối hợp giữa thanh tra, kiểm tra ngành dọc với hệ thống kiểm soát hiện hành để tăng cường công tác kiểm tra, giám sát đối với một số hoạt động độc lập trong ngành, qua đó hạn chế những sai phạm trong công tác chuyên môn, nghiệp vụ của từng khâu công tác.

            Xây dựng cơ chế phối hợp – kiểm soát giữa các CQTPHS hiệu quả sẽ góp phần đẩy nhanh tiến độ giải quyết các vụ án hình sự; đảm bảo tính khách quan, thận trọng trong quá trình đánh giá chứng cứ; kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc về pháp luật hình sự và tố tụng hình sự trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Những định hướng hoàn thiện về mặt pháp luật sẽ giúp cho hệ thống pháp luật hình sự, tố tụng hình sự được hoàn thiện hơn và tạo nền tảng cơ sở pháp lý cho các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện tốt chức năng của mình, đảm bảo giảm thiểu tối đa tình trạng oan, sai, bỏ lọt tội phạm trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.

* Tài liệu tham khảo:

1

Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015;

2

Luật Công an nhân dân năm 2018;

3

Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014;

4

Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014;

5

Luật Thi hành án dân sự năm

6

Luật Thi hành án hình sự năm….

7

Thông tư liên tịch số 01/2017/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC ngày 29/12/2017 của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định của BLTTHS về tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm, kiến nghị khởi tố.

8

Thông tư số 28/2020/TT-BCA ngày 26/3/2020 của Bộ Công an quy định trình tự, thủ tục tiếp nhận, phân loại, xử lý, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm, kiến nghị khởi tố của lực lượng công an nhân dân.

9

Thông tư liên tịch số 02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP ngày 22/12/2017 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng quy định về việc phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc thực hiện một số quy định của BLTTHS về trả hồ sơ điều tra bổ sung.

10

Thông tư liên tịch số 03/2018/TTLT-BCA-VKSNDTC-BQP-TTCP ngày 01/02/2018 của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Quốc phòng, Thanh tra Chính phủ quy định về việc phối hợp giữa CQĐT, VKS, Cơ quan thanh tra trong việc trao đổi thông tin về tội phạm và giải quyết kiến nghị khởi tố được phát hiện thông qua hoạt động thanh tra.

11

Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 19/10/2018 quy định về phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc thực hiện một số quy định của BLTTHS.

      TS. Nguyễn Thị Tuyết Nhung

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng



[1] Thông tư liên tịch số 01/2017/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC ngày 29/12/2017 của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định của BLTTHS về tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm, kiến nghị khởi tố; Thông tư số 28/2020/TT-BCA ngày 26/3/2020 của Bộ Công an quy định trình tự, thủ tục tiếp nhận, phân loại, xử lý, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm, kiến nghị khởi tố của lực lượng công an nhân dân; Thông tư liên tịch số 02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP ngày 22/12/2017 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng quy định về việc phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc thực hiện một số quy định của BLTTHS về trả hồ sơ điều tra bổ sung; Thông tư liên tịch số 03/2018/TTLT-BCA-VKSNDTC-BQP-TTCP ngày 01/02/2018 của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Quốc phòng, Thanh tra Chính phủ quy định về việc phối hợp giữa CQĐT, VKS, Cơ quan thanh tra trong việc trao đổi thông tin về tội phạm và giải quyết kiến nghị khởi tố được phát hiện thông qua hoạt động thanh tra; Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 19/10/2018 quy định về phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc thực hiện một số quy định của BLTTHS.

 


Ứng dụng hỗ trợ nghiệp vụ
Tin tức
Thông tin cần biết
Thống kê truy cập
  • Đang online: 16
  • Hôm nay: 510
  • Trong tuần: 6 722
  • Tất cả: 1 564 454
Trang thông tin điện tử: VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG - Cơ quan chủ quản: VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO
Địa chỉ: Lô 18A, Lê Hồng Phong, Hải An, TP Hải Phòng - Điện thoại: 02253.838308 - Fax: 02253.839072 - Email: vp_haiphong@vks.gov.vn
Trưởng ban biên tập: Phó Viện trưởng Lưu Xuân Sang
Số giấy phép: 03/GP-STTTT do Sở Thông tin và Truyền thông TP Hải Phòng cấp ngày 17 tháng 10 năm 2017 (Giấy phép có giá trị 10 năm)
Bản quyền thuộc về VKSND TP Hải Phòng - Thiết kế bởi VNPT | Quản trị