Luật Trí tuệ nhân tạo: Thiết lập nền tảng pháp lý và bệ phóng cho công nghệ số
15/05/2026
Trong
bối cảnh AI phát triển mạnh mẽ, việc ban hành Luật Trí tuệ nhân tạo và Nghị định
142/2026/NĐ-CP đã góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý nhằm quản lý, kiểm soát
và phát triển AI minh bạch, an toàn.
Luật
trí tuệ nhân tạo hệ thống rõ ràng từ khâu nghiên cứu, phát triển đến cung cấp
và triển khai hệ thống trí tuệ nhân tạo. Điểm sáng nhất trong luật là hệ thống
quản trị dựa trên mức độ rủi ro, được cụ thể hóa bởi Nghị định số 142/2026/NĐ-CP ngày 30/4/2026 Quy định chi tiết một số điều
và biện pháp thi hành luật trí tuệ nhân tạo. Các nhà làm luật áp dụng phương thức
quản lý theo mức độ rủi ro, tương đồng rất lớn và chịu ảnh hưởng trực tiếp từ Đạo
luật AI Act của Liên minh Châu Âu (EU) – đạo luật đầu tiên trên thế giới phân
loại AI theo rủi ro. Theo đó, tại Điều 9 Luật Trí tuệ nhân tạo, Điều 6 Nghị định
142/2026/NĐ-CP quy định 3 mức độ rủi ro của hệ thống trí tuệ nhân tạo là Hệ thống
trí trí tuệ nhân tạo được phân loại rủi ro cao là hệ thống có thể gây thiệt hại
đáng kể đến tính mạng, sức khỏe, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá
nhân, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, an ninh quốc gia; Hệ thống trí tuệ
nhân tạo được phân loại có rủi ro trung bình là hệ thống có khả năng gây nhầm lẫn,
tác động hoặc thao túng người sử dụng do không nhận biết được chủ thể tương tác
là hệ thống trí tuệ nhân tạo hoặc nội dung do hệ thống tạo ra; Hệ thống trí tuệ
nhân tạo được phân loại có rủi ro thấp là hệ thống không thuộc trường hợp quy định
tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 9 Luật trí tuệ nhân tạo. Việc học tập mô
hình từ EU mang lại lợi thế chiến lược: vừa không kìm hãm đổi mới sáng tạo nhờ
cơ chế quản lý linh hoạt, vừa giúp doanh nghiệp Việt Nam đáp ứng các tiêu chuẩn
quốc tế để thuận lợi xuất khẩu công nghệ.
Luật
Trí tuệ nhân tạo khẳng định mạnh mẽ nguyên tắc "Lấy con người làm trung
tâm" (Điều 4). Công nghệ không được phép thay thế thẩm quyền và trách nhiệm
của con người; mọi quyết định quan trọng của máy móc phải luôn nằm trong tầm kiểm
soát và có thể can thiệp bởi con người. Đây là nguyên tắc lõi, nhấn mạnh tầm
quan trọng của con người khi sử dụng công cụ AI; AI không thể thay thế con người
để trở thành một chủ thể pháp lý độc lập. Hậu quả do con người sử dụng AI tạo
ra phải do con người chịu trách nhiệm.
Ảnh
minh họa: Con người giữ vai trò chủ đạo trong việc kiểm
soát công nghệ AI - Nguồn: AI tạo lập
Bên
cạnh đó, Luật cũng đặt nền móng cho Chủ quyền trí tuệ nhân tạo quốc gia (Chương
III). Việc ưu tiên phát triển mô hình ngôn ngữ lớn tiếng Việt (LLM) và tiếng
dân tộc thiểu số không chỉ là câu chuyện công nghệ, mà còn là chiến lược bảo tồn
bản sắc văn hóa và bảo vệ an ninh thông tin quốc gia trên không gian mạng. Không chỉ dừng
lại ở việc quản lý, Luật AI còn cho thấy vai trò phát triển của Nhà nước. Cơ chế
Thử nghiệm có kiểm soát tại Điều 21 là một bước đột phá, cho phép các doanh
nghiệp công nghệ được phép thử nghiệm những mô hình AI mới trong môi trường thực
tế với sự giám sát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Luật quy định Nhà nước
có đầu tư vào hạ tầng dữ liệu và hạ tầng tính toán dùng chung, tạo điều kiện
cho các doanh nghiệp khởi nghiệp tiếp cận nguồn lực chiến lược mà trước đây vốn
là rào cản tài chính rất lớn.
Luật
Trí tuệ nhân tạo đã sẵn sàng để trở thành bệ phóng cho Việt Nam bắt kịp với những
thay đổi của thời đại kỷ nguyên số. Với những quy định nghiêm cấm các hành vi lợi
dụng AI để lừa dối, thao túng hành vi hay xâm phạm quyền lợi nhóm người dễ bị tổn
thương, luật tạo ra hành lang pháp lý vững chắc để bảo vệ xã hội và xây dựng niềm
tin của người dân vào công nghệ. Đây chính là chìa khóa để AI thực sự trở thành
động lực quan trọng cho tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững của đất nước
trong giai đoạn tới.
Nguyễn Phạm Minh Hiếu
– Viện KSND khu vực 8 Hải Phòng