Nâng cao chất lượng phối hợp xét xử qua phiên toà rút kinh nghiệm vụ án “Trộm cắp tài sản”
Trong thực tiễn xét xử án hình sự, không ít vụ án có
nội dung đơn giản, chứng cứ rõ ràng, hành vi phạm tội không phát sinh nhiều
tranh luận. Tuy nhiên, chính ở những vụ án như vậy, yêu cầu đối với hoạt động
xét xử lại không dừng ở việc xác định có tội hay không mà đặt ra ở mức độ làm
rõ bản chất hành vi, cách thức đánh giá chứng cứ và khả năng thuyết phục của lập
luận tại phiên tòa. Đây cũng là thước đo trực tiếp đối với năng lực thực hành
quyền công tố của Kiểm sát viên và kỹ năng điều hành của Hội đồng xét xử.
Phiên tòa rút kinh nghiệm vì thế không nhằm nhìn vào
kết quả xử lý cuối cùng mà tập trung vào quá trình hình thành kết quả đó. Từng
nội dung xét hỏi, từng cách khai thác chứng cứ và từng quan điểm được trình bày
tại phiên tòa đều phản ánh rõ chất lượng phối hợp giữa các chủ thể tiến hành tố
tụng, từ đó đặt ra yêu cầu hoàn thiện trong thực tiễn.
Chiều ngày 14/4/2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực
4 – Hải Phòng đã phối hợp với Tòa án nhân dân cùng cấp tổ chức phiên tòa hình sự
sơ thẩm rút kinh nghiệm vụ án “Trộm cắp tài sản”, được thực hiện theo hình thức
kết hợp trực tiếp và trực tuyến. Phiên tòa được tổ chức bảo đảm yêu cầu về công
khai, minh bạch, tạo điều kiện thuận lợi cho việc theo dõi, đánh giá và rút
kinh nghiệm sau phiên tòa.
Theo nội dung Cáo trạng: Lê Trung
Thành là công nhân làm việc tại xưởng lắp ráp ô tô của Công ty Cổ phần sản xuất
và kinh doanh Vinfast (thuộc đặc khu Cát Hải, thành phố Hải Phòng) từ ngày
15/7/2024. Do thiếu tiền chi tiêu cá nhân nên Thành nảy sinh ý định trộm cắp
tài sản của công nhân làm việc cùng xưởng để bán lấy tiền. Khoảng 04 giờ 00 phút ngày
01/12/2025, Thành điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade biển kiểm soát
15G-096.04 từ nhà đến khu vực chợ Núi Đèo, phường Thủy Nguyên, thành phố Hải
Phòng gửi xe, sau đó đi bộ ra điểm đón xe đưa đón công nhân để vào làm việc tại
Công ty Cổ phần sản xuất và kinh doanh Vinfast. Đến khoảng
06 giờ 03 phút cùng ngày, tại khu vực để đồ cá nhân (locker) của công nhân
trong xưởng lắp ráp Công ty Cổ phần sản xuất và kinh doanh Vinfast, Lê Trung
Thành lợi dụng thời điểm các công nhân đang làm việc, không có người trông coi,
Thành đã lén lút mở các túi đồ, ba lô của công nhân để dưới nền nhà cho vào ba
lô của Thành mang về nhà cất giấu tổng cộng 11 (mười một) chiếc điện thoại đi động
các loại.
Hành vi được thực hiện liên tiếp trong cùng một khoảng thời gian, với cùng
phương thức, thể hiện rõ sự chủ động trong việc lợi dụng sơ hở để chiếm đoạt
tài sản. Toàn bộ diễn biến hành vi đã được hệ thống camera an ninh của doanh
nghiệp ghi nhận, là nguồn chứng cứ quan trọng phục vụ việc làm rõ vụ án.
Sau khi bị phát hiện bị mất tài sản, các bị hại đã trình báo Công ty
để trích xuất hệ thống camera an ninh ghi lại nội dung hình ảnh vụ việc và
trình báo Cơ quan Công an để giải quyết. Trên cơ sở tài liệu thu thập được, cơ quan điều tra đã nhanh chóng làm rõ
hành vi phạm tội.
Ngày 03/12/2025, Lê Trung Thành đã đến cơ quan Công
an đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi và tự nguyện giao nộp tài sản đã chiếm đoạt.
Kết luận định giá xác định tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 67.400.000 đồng.
Toàn bộ tài sản đã được thu hồi, trả lại cho các bị hại; các bị hại không có
yêu cầu bồi thường dân sự và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị
cáo.
Tại phiên tòa, trên cơ sở nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân khu vực
4 – Hải Phòng đã truy tố, Hội đồng xét xử xác định trọng tâm không phải là việc
chứng minh có hay không hành vi phạm tội, mà tập trung làm rõ cách thức thực hiện
hành vi, mức độ chủ động và tính liên tục trong hành vi chiếm đoạt, những yếu tố
có ý nghĩa trực tiếp trong việc đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành
vi và quyết định hình phạt.
Hoạt động xét hỏi được Hội đồng xét xử điều hành theo hướng tập trung, bám
sát các mốc hành vi cụ thể. Trình tự xét hỏi được triển khai logic, từ thời điểm
bị cáo tiếp cận khu vực để đồ cá nhân, quá trình quan sát, lựa chọn tài sản, đến
khi thực hiện hành vi chiếm đoạt và cất giấu tài sản, bảo đảm làm rõ đầy đủ diễn
biến vụ án.
Kiểm sát viên tham gia xét hỏi với sự chủ động, phối
hợp chặt chẽ với Hội đồng xét xử trong việc định hướng nội dung cần làm rõ. Nội
dung xét hỏi không chỉ dừng lại ở việc xác nhận hành vi mà đi sâu vào các yếu tố
phản ánh bản chất của hành vi phạm tội như: cách thức bị cáo quan sát, lựa chọn
tài sản; việc thực hiện hành vi trong cùng một khoảng thời gian; tính liên tục
và sự chủ động trong quá trình chiếm đoạt.
Thông qua việc xét hỏi và đối chiếu lời khai của bị
cáo với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đặc biệt là dữ liệu camera
đã được thu thập trong quá trình điều tra, hành vi phạm tội của bị cáo được làm
rõ một cách đầy đủ, khách quan. Dấu hiệu “lén lút chiếm đoạt tài sản” được thể
hiện không chỉ ở từng hành vi riêng lẻ mà trong cả quá trình thực hiện hành vi
liên tiếp, thể hiện ý thức chiếm đoạt rõ ràng của bị cáo.
Đối với chứng cứ là dữ liệu camera, Hội đồng xét xử
đã thực hiện việc công bố theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Trên cơ
sở đó, Kiểm sát viên khai thác nội dung chứng cứ thông qua hoạt động xét hỏi,
làm rõ các chi tiết liên quan đến hành vi của bị cáo được ghi nhận trong dữ liệu.
Việc đối chiếu giữa lời khai và nội dung chứng cứ cho thấy sự phù hợp, thống nhất,
qua đó củng cố căn cứ xác định hành vi phạm tội.
Trong phần tranh luận, Kiểm sát viên đã trình bày
quan điểm luận tội trên cơ sở kết quả xét hỏi công khai tại phiên tòa, phân
tích rõ hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo
quy định tại khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự, đồng thời đánh giá tính chất, mức
độ nguy hiểm của hành vi, hậu quả xảy ra và các tình tiết liên quan. Đối với
các tình tiết giảm nhẹ, Kiểm sát viên đã xem xét đầy đủ các yếu tố có lợi cho bị
cáo như: sau khi thực hiện hành vi đã đến cơ quan Công an đầu thú; trong quá
trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; toàn bộ
tài sản đã được thu hồi, trả lại cho các bị hại; các bị hại có đơn xin giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự. Trên cơ sở đó, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 –
Hải Phòng tham gia phiên toà đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng mức hình phạt từ
03 năm đến 03 năm 06 tháng tù đối với bị cáo Lê Trung Thành.
Sau khi kết thúc phần tranh luận, bị cáo Lê Trung
Thành được nói lời sau cùng. Tại phiên tòa, bị cáo tiếp tục thành khẩn khai nhận
toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã truy tố; lời khai phù hợp với
các tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra công khai. Bị cáo thể hiện thái độ ăn
năn, hối hận, nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm đến quyền sở hữu
tài sản của người khác, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình
phạt để bị cáo sớm có điều kiện cải tạo, sửa chữa sai lầm.
Căn cứ vào toàn bộ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ
vụ án, kết quả xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã quyết định
tuyên phạt bị cáo Lê Trung Thành 03 năm tù về tội Trộm cắp tài sản theo quy định
tại khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Việc Hội đồng xét xử quyết định mức hình
phạt phù hợp với đề nghị của Viện kiểm sát, đồng thời áp dụng mức thấp trong
khung, thể hiện sự đánh giá toàn diện các tình tiết giảm nhẹ đã được làm rõ tại
phiên tòa. Đồng thời, từ kết quả này cũng đặt ra yêu cầu tiếp tục nâng cao chất
lượng đánh giá, phân tích và lượng hóa các tình tiết trong đề nghị hình phạt, bảo
đảm sát hơn với diễn biến tranh tụng.
Sau khi kết thúc phiên tòa, đơn vị đã tổ chức họp
rút kinh nghiệm trên cơ sở toàn bộ diễn biến xét xử. Nội dung trao đổi tập
trung vào kỹ năng xét hỏi, phương pháp khai thác chứng cứ, đặc biệt là chứng cứ
điện tử, cũng như cách thức trình bày quan điểm luận tội và đề nghị hình phạt.
Qua đó cho thấy, việc phối hợp giữa Kiểm sát viên và
Hội đồng xét xử tại phiên tòa cơ bản bảo đảm yêu cầu, thể hiện ở việc xác định
đúng trọng tâm xét hỏi, làm rõ đầy đủ hành vi phạm tội và các tình tiết liên
quan. Đồng thời, từ thực tiễn phiên tòa cũng đặt ra yêu cầu tiếp tục nâng cao
chiều sâu trong xét hỏi, tăng cường hiệu quả khai thác chứng cứ và chú trọng
hơn việc đánh giá, phân tích các tình tiết khi đề nghị hình phạt.
Từ toàn bộ diễn biến phiên tòa có thể thấy, việc làm
rõ hành vi phạm tội trong vụ án không đặt ra nhiều khó khăn về chứng cứ nhưng
yêu cầu lại tập trung vào cách thức khai thác và đánh giá chứng cứ tại phiên
tòa. Thông qua hoạt động xét hỏi được định hướng rõ ràng, việc đối chiếu lời
khai của bị cáo với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ đã góp phần làm rõ tính
liên tục, sự chủ động trong hành vi chiếm đoạt, tạo cơ sở vững chắc cho việc
xác định tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi.
Kết quả tranh tụng tại phiên tòa cũng cho thấy, khi
các tình tiết của vụ án được làm rõ cụ thể, đầy đủ thì việc đề nghị hình phạt
và quyết định của Hội đồng xét xử cơ bản bảo đảm sự thống nhất, phản ánh đúng
tính chất vụ án và các yếu tố liên quan đến nhân thân bị cáo. Mức hình phạt được
tuyên không chỉ dựa trên hành vi phạm tội mà còn thể hiện sự xem xét toàn diện
các tình tiết giảm nhẹ đã được kiểm tra công khai.
Phiên tòa rút kinh nghiệm lần này cho thấy rõ hơn
yêu cầu nâng cao chất lượng phối hợp giữa Kiểm sát viên và Hội đồng xét xử
không phải ở hình thức mà ở hiệu quả thực chất trong từng hoạt động tố tụng cụ
thể. Khi xét hỏi đi đúng trọng tâm, chứng cứ được khai thác hợp lý và quan điểm
được xây dựng trên cơ sở tranh tụng thì quá trình xét xử sẽ bảo đảm tính chặt
chẽ, khách quan và thuyết phục.
Từ thực tiễn đó, việc tiếp tục nâng cao kỹ năng xét
hỏi, khả năng phân tích chứng cứ và chất lượng đề nghị hình phạt là yêu cầu đặt
ra trực tiếp, góp phần nâng cao hiệu quả công tác thực hành quyền công tố và kiểm
sát xét xử trong thời gian tới.
Một
số hình ảnh tại phiên tòa:
Nguyễn Thị Diệu Ngọc - Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4