Bàn về cách tính thời hạn theo điều 32 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án
Luật
Hòa giải, đối thoại tại Tòa án năm 2020 có vai trò quan trọng trong việc giảm
tải án, khuyến khích các bên tự thỏa thuận, góp phần xây dựng nền tư pháp thân
thiện. Tuy nhiên, trên thực tiễn trong quá trình áp dụng luật còn
có bất
cập về cách tính về thời hạn để Thẩm phán ra quyết định công nhận hoặc không công nhận kết
quả hòa giải thành, đối thoại thành (theo quy định tại Điều 32 của Luật).
Hình ảnh phiên hòa giải tại Tòa án (nguồn Internet)
Điều
32 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án quy định:
1. Sau khi lập biên bản ghi nhận kết quả hòa giải, biên
bản ghi nhận kết quả đối thoại, Hòa giải viên chuyển biên bản cùng
tài liệu kèm theo cho Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự, khiếu
kiện hành chính để
ra quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành trong trường
hợp các bên có yêu cầu.
2. Thời hạn chuẩn bị ra quyết định công nhận kết quả hòa
giải thành, đối thoại thành là 15 ngày kể từ ngày Tòa án nhận được biên
bản và tài liệu kèm theo. Trong thời hạn này, Thẩm phán được Chánh án Tòa án
phân công xem xét ra quyết định có các quyền sau đây:
a) Yêu cầu một hoặc các bên trình bày ý kiến về kết quả
hòa giải thành, đối thoại thành đã được ghi tại biên bản;
b) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền
cung cấp cho Tòa án tài liệu làm cơ sở cho việc ra quyết định, nếu xét thấy cần
thiết. Cơ quan, tổ chức, cá nhân được Tòa án yêu cầu có trách nhiệm trả lời Tòa
án trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu của Tòa án.
3. Hết thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này, Thẩm phán
phải ra một trong các quyết định sau đây:
a) Trường hợp có đủ điều kiện quy định tại Điều 33
của Luật này thì Thẩm phán ra quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối
thoại thành;
b) Trường hợp không có đủ điều kiện quy định tại
Điều 33 của Luật này thì Thẩm phán ra quyết định không công nhận kết quả
hòa giải thành, đối thoại thành và nêu rõ lý do. Thẩm phán chuyển quyết định,
biên bản và tài liệu kèm theo cho Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc theo
quy định của pháp luật về tố tụng.
Quá trình giải quyết, để làm căn cứ tính thời hạn ra quyết định Công nhận hoặc
không công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành thẩm phán được phân
công căn cứ vào quy định của Bộ luật dân sự để tính thời hạn 15 ngày theo quy định tại Điều 32 Luật hòa giải.
Điều
144. Bộ luật dân sự quy định
1. Thời hạn là một khoảng thời
gian được xác định từ thời điểm này đến thời điểm khác.
2. Thời hạn có thể được xác định bằng phút, giờ, ngày, tuần,
tháng, năm hoặc bằng một sự kiện có thể sẽ xảy ra.
Điều 148. Bộ luật dân sự quy định
1. Khi thời hạn tính bằng ngày thì thời
hạn kết thúc tại thời điểm kết thúc ngày cuối cùng của thời hạn....
5. Khi ngày cuối cùng của thời hạn là
ngày nghỉ cuối tuần hoặc ngày nghỉ lễ thì thời hạn kết thúc tại thời điểm kết
thúc ngày làm việc tiếp theo ngày nghỉ đó.
6. Thời điểm kết thúc ngày cuối cùng
của thời hạn vào lúc hai mươi tư giờ của ngày đó.
Như vậy, “thời hạn 15 ngày”
theo quy định tại Điều 32 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa
án được hiểu là 15 ngày liên tục, không phân biệt ngày làm việc
hay ngày nghỉ, chỉ được chuyển sang ngày làm việc kế tiếp nếu ngày cuối cùng trùng vào ngày nghỉ, lễ. Cùng nhận thức như vậy nhưng thực tiễn áp dụng pháp luật hiện
nay còn tình trạng các thẩm phán có cách hiểu và tính khác nhau dẫn đến tình trạng Tòa
án nhận được biên bản và tài liệu kèm theo cùng một ngày nhưng các thẩm phán ra Quyết định công
nhận hoặc không công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành ở 02 ngày khác nhau, cụ
thể:
Cách thứ nhất: Thời
hạn 15 ngày được tính liên tục theo ngày dương lịch, không loại trừ ngày nghỉ;
nếu ngày cuối cùng trùng ngày nghỉ, lễ, Tết thì chuyển sang ngày làm việc kế
tiếp tức là ngày
đầu tiên của ngày làm việc tiếp theo.
Ví
dụ: Phiên hòa giải kết thúc ngày 02/01/2026, thì ngày 03/01/2026
là ngày thứ nhất, ngày thứ 15 là 17/01/2026 là thứ bảy
do vậy thời hạn được chuyển sang ngày làm việc tiếp theo là ngày 19/01/2026 Tòa án sẽ ra Quyết định Công nhận kết quả hòa giải thành.
Cách hiểu thứ hai: Thời
hạn 15 ngày được tính liên tục theo ngày dương lịch, không loại trừ ngày nghỉ;
nếu ngày cuối cùng trùng ngày nghỉ, lễ, Tết thì chuyển sang ngày làm việc kế
tiếp tuy nhiên nếu ngày thứ 15 rơi vào ngày nghỉ, ngày lễ thì
Tòa không ra quyết định ngay trong ngày
làm việc đầu tiên, mà lùi sang ngày tiếp theo ra Quyết định để “đảm bảo
quyền lợi đương sự” và phù hợp với quy định tại khoản 5,6 Điều 148 Bộ luật dân sự.
Ví
dụ: Phiên hòa giải kết thúc ngày 02/01/2026, thì ngày 03/01/2026
là ngày thứ nhất, ngày thứ 15 là 17/01/2026 là thứ bảy
do vậy thời hạn được chuyển sang ngày làm việc tiếp theo là ngày 19/01/2026,
nên để đảm bảo quyền lợi cho các
đương sự thì sau khi kết thúc ngày 19/01/2026 (sau giờ làm việc cuối cùng) Tòa án mới
ra Quyết định công nhận hòa giải thành tức là ngày 20/01/2026.
Tác giả đồng tình với cách hiểu thứ nhất là phù hợp với
quy định của Bộ luật dân sự và thống nhất với các quy định về cách xác định thời điểm bắt đầu và kết thúc
của các thời hạn tố tụng. Cách hiểu thứ 2 thể hiện tính thận
trọng, nhưng chưa có căn cứ pháp
lý, hiện nay không có quy định nào về việc Tòa án ra Quyết định công
nhận hoặc không công nhận kết quả hòa giải, đối thoại sau ngày làm việc kế tiếp (nếu ngày cuối cùng của thời hạn là ngày nghỉ, lễ).
Việc không đồng
nhất về cách tính này dẫn đến tình trạng mỗi thẩm phán lại có cách hiểu khác
nhau nên việc áp dụng pháp luật chưa được thống nhất.
Quy định về thời hạn 15 ngày tại Điều 32 Luật Hòa giải, đối
thoại tại Tòa án tuy đơn giản, nhưng việc hiểu và áp dụng đúng lại có ý nghĩa
then chốt trong việc đảm bảo tính hợp
lệ của quyết định công nhận hòa giải thành. Để thống nhất trong cách tính thời hạn
15 ngày như phân tích ở trên
Tòa án nhân dân tối cao cần có Nghị quyết hoặc văn bản hướng dẫn cụ thể về cách tính thời hạn theo Điều 32 Luật Hòa giải. Việc ban
hành hướng dẫn thống nhất của Tòa án nhân dân tối cao là cần thiết, nhằm bảo
đảm pháp luật được áp dụng đồng bộ, rõ
ràng và minh bạch đúng với tinh thần cải cách tư pháp mà Luật Hòa giải,
đối thoại tại Tòa án hướng tới.
Nguyễn Thị Hương,
Vũ Thị Lệ - Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9