Bàn về quy định của Điều 256a của Bộ luật Hình sự và Điều 32 Luật Phòng chống ma túy
Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ
sung năm 2017 có hiệu lực thi hành ngày 1/1/2018. Đây là Bộ luật có ý nghĩa đặc
biệt quan trọng, đóng vai trò thể chế hóa Hiến pháp 2013 và tinh thần
của Cải cách tư pháp trong Nghị quyết 08 và Nghị quyết 49 của Bộ
Chính trị. Tuy nhiên, trong quá trình thi hành còn có những khó khăn, vướng
mắc, trong phạm vi bài viết này chúng tôi đề cập đến sự mâu thuẫn giữa Điều
256a của Bộ luật hình sự có hiệu lực pháp luật từ ngày 01/07/2025 với Điều 32
Luật Phòng, chống ma túy có hiệu lực pháp luật từ ngày 01/01/2022.
Điều 256a. Tội sử dụng trái phép chất ma túy của
Bộ luật Hình sự năm 2015, quy định:
“1. Người nào sử dụng trái phép chất ma
túy thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 03 năm:
a) Đang trong thời hạn cai nghiện ma túy
tự nguyện, cai nghiện ma túy bắt buộc, điều trị nghiện các chất ma túy bằng
thuốc thay thế theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy;
b) Đang trong thời hạn quản lý sau cai
nghiện theo quy định của Luật phòng, chống ma túy;
c) Đang trong thời hạn quản lý người sử
dụng trái phép chất ma túy và đã từng bị xử lý hành chính bằng biện pháp đưa
vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy;
d) Trong thời hạn 02 năm kể từ khi tự ý
chấm dứt cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc điều trị nghiện các chất ma túy bằng
thuốc thay thế theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy.
2. Tái phạm tội
này thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm”.
Điều 32. Đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện
bắt buộc của Luật Phòng, chống ma túy, quy định:
“Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên bị áp dụng
biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định
của Luật Xử lý vi
phạm hành chính khi thuộc một trong các
trường hợp sau đây:
1. Không đăng ký, không thực hiện hoặc tự ý chấm dứt
cai nghiện ma túy tự nguyện;
2. Trong thời gian cai nghiện ma túy tự nguyện bị
phát hiện sử dụng trái phép chất ma túy;
3. Người nghiện ma túy các chất dạng thuốc phiện
không đăng ký, không thực hiện hoặc tự ý chấm dứt điều trị nghiện các chất dạng
thuốc phiện bằng thuốc thay thế hoặc bị chấm dứt điều trị nghiện các chất dạng
thuốc phiện bằng thuốc thay thế do vi phạm quy định về điều trị nghiện;
4. Trong thời gian quản lý sau cai nghiện ma túy mà
tái nghiện”.
Qua nghiên cứu của 02 điều luật nêu trên,
chúng tôi nhận thấy còn có những mâu thuẫn của điều luật, chưa có hướng dẫn hay
sửa đổi bổ sung đối với các điều luật đó, cụ thể:
Thứ nhất: Việc sử dụng cụm từ “thời gian”
trong điều luật của khoản 4 Điều 32 không thống nhất cụm từ “Thời hạn” với khoản
1, 2 Điều 40 của Luật Phòng, chống ma túy gây ra việc hiểu không thống nhất cho
người áp dụng pháp luật.
Thứ hai: Theo quy định của Điều 32 Luật Phòng, chống
ma túy thì người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên bị áp dụng biện pháp xử lý
hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính mà trong thời gian cai
nghiện ma túy tự nguyện bị phát hiện sử dụng trái phép chất ma túy và trong
thời gian quản lý sau cai nghiện ma túy mà tái nghiện là đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào
cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy. Tuy
nhiên, theo quy định của điểm a, điểm b khoản 1 Điều 256a BLHS năm 2015, người
đang trong thời hạn cai nghiện ma túy
tự nguyện, cai nghiện ma túy bắt buộc, điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc
thay thế theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy; người đang trong thời hạn
quản lý sau cai nghiện theo quy định của Luật phòng, chống ma túy mà lại sử dụng
trái phép chất ma túy thì bị phạt tù từ 02 năm đến 03 năm. Với quy định của 02
điều luật nêu trên “Trùng nhau về yếu tố định tội và yếu tố để áp dụng biện xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện
bắt buộc” dẫn đến nhiều cách hiểu
khác nhau về áp dụng pháp luật, có quan điểm có thể bị áp dụng biện pháp
xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy nếu
đủ 02 tình tiết quy định tại khoản 2 và khoản 4 Luật Phòng, chống ma túy. Có quan điểm khác xử lý hình sự đối với người
nghiện ma túy nếu đủ 2 tình tiết quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều
256a BLHS năm 2015.
Để thực
hiện, áp dụng pháp luật được thống nhất và nguyên tắc xử lý đối với người phạm tội
theo đúng quy định của Điều 256a BLHS, chúng tôi đề xuất liên ngành Trung ương cần có văn bản hướng dẫn cụ thể, để các cơ quan tiến
hành tố tụng, người tiến hành tố tụng áp dụng pháp luật đảm bảo thống nhất./.
Nguyễn Quang Đại - Viện KSND khu vực 13