Cơ quan Thi hành án dân sự có vi phạm Nghị định 33/2020/NĐ - CP không ?
Thông qua công tác
trực tiếp kiểm sát tại cơ quan Thi hành án dân sự, tôi thấy nội dung hướng dẫn
việc ra quyết định thi hành án theo quy định tại Nghị định 33/2020/NĐ - CP ngày
17/3/2020 của Chính Phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 62/2015/NĐ – CP ngày
18/7/2015 của Chính Phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của
Luật thi hành án dân sự, chưa được rõ ràng dẫn đến những cách hiểu khác nhau
Theo quy định tại
khoản 4 Điều 1 Nghị định 33/2020/NĐ - CP ngày 17/3/2020 của Chính Phủ về sửa đổi, bổ sung một
số điều của Nghị định số 62/2015/NĐ – CP ngày 18/7/2015 của Chính Phủ quy định chi tiết và
hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thi hành án dân sự, thì khoản 1 Điều 6 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“1.
Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra một quyết định thi hành án chung đối
với các khoản thuộc diện chủ động thi hành trong một bản án, quyết định, trừ
các trường hợp sau đây:
a)
Có người được trả lại tiền, tài sản thì ra một quyết định thi hành án đối với
người đó.
b)
Có người phải thi hành nhiều khoản khác nhau thì ra một quyết định thi hành án
đối với người đó.
c)
Một người vừa có quyền, vừa có nghĩa vụ thì ra một quyết định thi hành án đối
với người đó.
Quy định như
trên dẫn đến có hai cách hiểu khác nhau như sau:
Ý kiến thứ
nhất: Hiện tại một số đơn vị thi hành án dân sự cấp huyện trước đây, nay được
nhập thành phòng thi hành án dân sự khu vực, cho rằng đối với người được trả
lại tiền hoặc tài sản thì phải ban hành riêng một quyết định thi hành án như
điểm a khoản 1 trên. Ví dụ người
phải thi hành án là
Nguyễn Văn Hiện, sinh năm 1980, trú tại thôn Bối Tượng, xã Lương Điền, phải thi
hành khoản án phí sơ thẩm ly hôn 150.000 đồng và được hoàn trả tạm
ứng án phí 150.000 đồng. Cơ quan THADS đã tách 02 nội dung thi hành
án trên thành hai Quyết
định thi hành án: một quyết định thi hành án về khoản án phí
150.000 đồng, một quyết định thi hành án về hoàn trả 150.000 đồng. Việc tách
thành 2 quyết định thi hành án như trên cũng giúp cho cơ quan thi hành án tăng
tỉ lệ giải quyết về việc theo chỉ tiêu cấp trên giao.
Hình ảnh buổi kết luận trực tiếp kiểm
sát tại phòng THADS khu vực 12
Ý kiến thứ
hai, cũng là ý kiến của tác giả cho rằng phải căn cứ vào điểm c “Một
người vừa có quyền, vừa có nghĩa vụ thì ra một quyết định thi hành án đối với
người đó” để ban hành một quyết định trong trường hợp trên. Điều
này hợp lý bởi thực chất cơ quan thi hành án dân sự chỉ tiến hành làm việc và
giải quyết với một người, thực tế án phí họ đã nộp tạm ứng và chỉ cần đối trừ
đi là xong, còn khoản hoàn trả lại thì do cơ quan thi hành án thực hiện. Nếu
tách thành 2 quyết định sẽ phải lập 2 hồ sơ thi hành án, gây lãng phí về cả vật
chất và thời gian. Qua kiểm sát trực tiếp tại một đơn vị đã phát hiện riêng một
chấp hành viên có 60 hồ sơ như vậy, nếu cả đơn vị sẽ là bao nhiêu và sự lãng
phí lớn là điều tất yếu.
Tuy nhiên do
quy định của pháp luật chưa rõ ràng dẫn đến còn ý kiến tranh cãi. Qua bài viết
này rất mong nhận được ý kiến của các đồng nghiệp để cùng làm rõ hơn vấn đề cơ
quan Thi hành án dân sự có hay không có vi phạm 4 Điều 1 Nghị định 33/2020/NĐ - CP ngày
17/3/2020 của Chính Phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 62/2015/NĐ – CP ngày
18/7/2015 của Chính Phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của
Luật thi hành án dân sự.
Nguyễn
THị Hồng Hạnh - Phòng
11, VKSND
thành phố Hải Phòng