Đường lối giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng khi tài sản thế chấp bị nhà nước thu hồi phục vụ giải phóng mặt bằng
Trong thực tiễn
giải quyết các vụ án Kinh doanh thương mại, Dân sự liên quan đến hoạt động thu
hồi nợ của Tổ chức tín dụng (TCTD), Kiểm sát viên thường gặp các hồ sơ tranh chấp
phát sinh sau khi tài sản thế chấp (quyền sử dụng đất) bị Nhà nước thu hồi để
giải phóng mặt bằng. Lúc này, do tài sản bảo đảm không còn tồn tại trên thực địa,
phát sinh xung đột gay gắt giữa Ngân hàng và khách hàng vay về việc xử lý dòng
tiền đền bù dẫn đến việc khởi kiện ra Tòa án.
Khi nghiên cứu
loại hồ sơ tranh chấp này, Kiểm sát viên cần tập trung nghiên cứu hồ sơ và định
hình đường lối giải quyết vụ án theo các nội dung sau:
Bản chất pháp lý: Bảo đảm sự
ngay tình của bên thứ ba và tính liên tục của nghĩa vụ trả nợ
Theo quy định
tại các Điều từ 317 đến 327 Bộ luật dân sự và Luật Đất đai năm 2024, bản chất
pháp lý của sự kiện này được định hình như sau: Ngay khi có Quyết định thu hồi
đất của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, tài sản được thế chấp tại ngân hàng
không còn đủ điều kiện là tài sản bảo đảm trên thực tế, đối tượng ban đầu là
tài sản thế chấp không còn. Tuy nhiên nghĩa vụ trả nợ không chấm dứt, hợp đồng
tín dụng vẫn nguyên hiệu lực để đảm bảo sự ngay tình của người thứ ba. Khách
hàng phải có trách nhiệm thanh toán cả gốc lẫn lãi cho đến khi tất toán khoản
vay.
Theo khoản 3
Điều 307 Bộ luật Dân sự 2015 nếu số tiền có được từ việc xử lý tài sản cầm cố,
thế chấp nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm thì phần nghĩa vụ chưa được
thanh toán vẫn là nghĩa vụ không có bảo đảm, trừ trường hợp các bên có thỏa
thuận bổ sung tài sản bảo đảm. Khoản 8 Điều 21 Nghị định 21/2021 quy định trường
hợp không còn tài sản bảo đảm do bị thu hồi vì mục đích quốc phòng, an ninh hoặc
để phát triển kinh tế xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng thì số tiền được
bồi thường, tài sản được thay thế hoặc tài sản được trao đổi theo quy định của
pháp luật liên quan trở thành tài sản bảo đảm. Đây là căn cứ trực tiếp để xử
lý tình huống nhà đất đang thế chấp bị thu hồi. Do đó, có thể hiểu tài sản thay
thế hoặc tài sản được trao đổi trở thành tài sản bảo đảm mới. Ngân hàng Ngân
hàng giữ nguyên quyền ưu tiên đối kháng với bên thứ ba (Điều 319 Bộ luật Dân sự
2015) đối với tài sản bảo đảm mới này.
Quy trình xử lý dòng tiền đền bù
Trên thực tế, toàn bộ số tiền đền bù của khách
hàng sẽ không giải ngân về tài khoản của họ ngay mà sẽ nằm tại Kho bạc Nhà nước.
Số tiền này sẽ được ưu tiên xử lý để trả nợ cho ngân hàng theo các trường hợp
sau. Trường hợp thứ nhất, tiền bồi thường cao hơn dư nợ tại ngân hàng. Trường hợp
này xử lý khá đơn giản. Trên cơ sở văn bản thỏa thuận ba bên (Ngân hàng - Khách
hàng – Kho bạc) hoặc Quyết định/Bản án mang tính bắt buộc của cơ quan có thẩm
quyền, Kho bạc Nhà nước sẽ thực hiện thủ tục trích chuyển khoản tiền tương ứng
với tổng dư nợ (gốc và lãi phát sinh) cho ngân hàng để thực hiện giải chấp, tất
toán khoản vay. Số tiền thừa sẽ được chuyển trả cho chủ tài sản. Trường hợp thứ
hai, Tiền bồi thường thấp hơn dư nợ tại ngân hàng, Ngân hàng sẽ yêu cầu phong tỏa
và thu hồi toàn bộ số tiền đền bù đó tại Kho bạc để giảm trừ nợ gốc. Đối với phần
nợ thiếu hụt, ngân hàng yêu cầu khách hàng bổ sung tài sản thế chấp khác tương
xứng. Nếu bên vay không bổ sung được, ngân hàng sẽ áp dụng điều khoản thu nợ
trước hạn. Khách hàng bắt buộc phải chuẩn bị phương án tài chính để tiếp tục thực
hiện nghĩa vụ trả nốt phần nợ còn thiếu.

(Ảnh minh họa)
Tuy nhiên, trong thực tế, không phải lúc nào quy trình trên cũng
diễn ra suôn sẻ. Tranh chấp thường bùng phát và buộc Ngân hàng phải khởi kiện
ra Tòa án do người dân cố tình che giấu thông tin, tự ý nhận tiền bồi thường từ
Kho bạc rồi tẩu tán nhằm trốn tránh nghĩa vụ trả nợ. Hành vi này vi phạm nghiêm
trọng nghĩa vụ thông báo, nghĩa vụ duy trì tài sản bảo đảm đã thỏa thuận trong
hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp và làm phát sinh trách nhiệm dân sự của
bên vay.
Khi vụ án được
thụ lý và chuyển sang giai đoạn tố tụng, Kiểm sát viên được phân công kiểm sát
giải quyết vụ án cần tập trung thực hiện ngay các nhiệm vụ cốt lõi sau:
1. Kiểm sát
việc áp dụng biện pháp khẩn cấp để phong tỏa dòng tiền
Do khách hàng
đã có hành vi gian dối nhằm chiếm dụng tiền đền bù, nguy cơ dòng tiền bị tẩu
tán hoàn toàn là rất cao. Kiểm sát viên phải kiểm sát chặt chẽ hoặc chủ động đề
xuất Tòa án ra quyết định áp dụng ngay biện pháp khẩn cấp tạm thời: Phong tỏa
tài khoản hoặc phong tỏa số tiền đền bù tại Kho bạc Nhà nước (nếu tiền chưa bị
rút hết) nhằm bảo đảm khả năng thi hành án.
2. Kiểm sát chứng
cứ chứng minh lỗi cố ý của khách hàng
Kiểm sát viên
tập trung nghiên cứu hồ sơ để làm rõ hai căn cứ pháp lý: Thứ nhất, tính hợp
pháp của Hợp đồng thế chấp: Xác định hợp đồng đã được công chứng, đăng ký giao
dịch bảo đảm hợp pháp. Khẳng định quyền ưu tiên đối kháng của Ngân hàng đối với
số tiền đền bù (tài sản thế vị). Người dân không thể lấy lý do đất bị thu hồi để
phủ nhận nghĩa vụ. Thứ hai, đối chiếu điều khoản hợp đồng để chỉ rõ việc người
dân biết đất thuộc diện thu hồi nhưng cố ý không báo cho Ngân hàng, tự ý nhận
tiền. Đây là chứng cứ chứng minh lỗi cố ý vi phạm hợp đồng, làm phát sinh trách
nhiệm bồi thường và trả nợ trước hạn.
3. Đề xuất đường
lối giải quyết tại Phiên tòa
Khi phát biểu
quan điểm giải quyết vụ án, Kiểm sát viên đề xuất Hội đồng xét xử: Chấp nhận
toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng; chấp nhận điều khoản thu nợ trước hạn
do bên vay vi phạm nghĩa vụ hợp đồng. Tuyên buộc khách hàng phải hoàn trả ngay
lập tức toàn bộ dư nợ (gốc, lãi, phạt quá hạn phát sinh đến ngày xét xử). Ngân
hàng được quyền ưu tiên khấu trừ từ số tiền đền bù đang bị phong tỏa.
4. Nghiên cứu
chuyển sang Cơ quan điều tra nếu có dấu hiệu tội phạm
Trong quá
trình kiểm sát hồ sơ, nếu phát hiện khách hàng có hành vi gian dối tinh vi vượt
quá phạm vi tranh chấp dân sự (ví dụ: làm đơn giả khai báo mất Sổ đỏ gốc để xin
cơ quan chức năng cấp lại Sổ đỏ mới nhằm chiếm đoạt tiền đền bù từ Kho bạc), Kiểm
sát viên phải kịp thời báo cáo Lãnh đạo Viện, kiến nghị Tòa án chuyển ngay hồ
sơ, tài liệu sang Cơ quan Cảnh sát điều tra để xử lý về tội Lừa đảo chiếm đoạt
tài sản (Điều 174 BLHS) hoặc Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
(Điều 175 BLHS).
Nguyễn Phạm Minh Hiếu – Viện KSND khu
vực 8 – Hải Phòng