Một số vấn đề về bảo lĩnh trong tố tụng hình sự và thực tiễn áp dụng
Bảo
lĩnh là một trong những biện pháp ngăn chặn mang tính nhân đạo, góp phần bảo
đảm quyền con người, quyền công dân trong tố tụng hình sự. Tuy nhiên, do quy
định của pháp luật hiện nay về biện pháp này còn mang tính khái quát, thiếu cụ
thể nên việc áp dụng trên thực tế chưa thống nhất, thậm chí còn tùy nghi. Để
biện pháp này thực sự đi vào cuộc sống, hạn chế tình trạng lạm dụng tạm giam,
đồng thời nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, đặt ra
yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền sớm có văn bản hướng dẫn chi tiết, rõ ràng
hơn về điều kiện áp dụng để hoàn thiện cơ chế pháp lý, không chỉ bảo đảm tốt
hơn quyền lợi chính đáng của bị can, bị cáo mà còn góp phần khẳng định nguyên
tắc nhân đạo, thượng tôn pháp luật trong tố tụng hình sự nước ta.
Điều
121 Bộ luật tố tụng hình sự quy định: “Bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn thay
thế tạm giam. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi và
nhân thân của bị can, bị cáo, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể
quyết định cho họ được bảo lĩnh”.
Xuất
phát từ quy định này, thực tiễn đang có các cách hiểu và áp dụng khác nhau giữa
các cơ quan tiến hành tố tụng, cụ thể là:
Thứ nhất, Bộ luật tố tụng hình sự quy định “Bảo lĩnh” là biện
pháp ngăn chặn thay thế tạm giam. Vậy vấn đề đặt ra là trong mọi trường hợp chỉ
áp dụng biện pháp ngăn chặn này sau khi bị can, bị cáo đang bị tạm giam hay áp
dụng biện pháp ngăn chặn này ngay từ đầu khi khởi tố bị can? Đây là vấn đề chưa
có hướng dẫn cụ thể nên thực tế còn nhiều bất cập, ngoài những bị can, bị cáo
đã bị tạm giam khi có đủ điều kiện áp dụng biện pháp này thì còn có cả những bị
can được áp dụng biện pháp này sau khi có quyết định khởi tố bị can của cơ quan
tiến hành tố tụng hoặc bị can ra đầu thú trước cơ quan pháp luật.
Thứ hai, về điều kiện áp dụng biện pháp bảo lĩnh đối với bị
can, bị cáo còn chung chung, chưa cụ thể nên gây khó khăn cho việc áp dụng.
Luật
chỉ quy định căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà
không xác định rõ trường hợp phạm loại tội nào và đối tượng có điều kiện hoàn
cảnh nhân thân như thế nào thì được áp dụng nên thực tế việc có áp dụng hay
không áp dụng biện pháp ngăn chặn này vẫn tùy thuộc vào ý chủ quan của cơ quan,
người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; có trường hợp bị can, bị cáo có
nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, có nơi cư trú rõ ràng; thành khẩn khai báo là
người chưa thành niên, người bị bệnh nặng, người khuyết tật, người trụ cột
trong gia đình… nhưng vẫn không được cho bảo lĩnh. Đây là nguyên nhân dẫn đến
sự tùy nghi trong cách hiểu vấn đề và áp dụng pháp luật không thống nhất.
Về
vấn đề này, tác giả cho rằng, căn cứ vào từng vụ án cụ thể; nhân thân và điều
kiện, hoàn cảnh gia đình của từng bị can, bị cáo đồng thời bị can, bị cáo phải
có lý lịch rõ ràng, có nơi cư trú hoặc nơi công tác xác định và có nhân thân
tốt, thái độ khai báo thành khẩn… để có áp dụng biện pháp ngăn chặn này hay
không.
Thứ ba, quy định điều kiện đối với cơ quan, tổ chức
nhận bảo lĩnh.
Bộ
luật tố tụng hình sự quy định về tiêu chuẩn của cá nhân nhận bảo lĩnh (có tư
cách, phẩm chất tốt, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật) nhưng lại không quy định
tiêu chuẩn của cơ quan, tổ chức nhận bảo lĩnh. Vậy, tổ chức nhận bảo lĩnh là tổ
chức nào; là tổ chức chính trị, chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã
hội nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức tôn giáo hay mọi tổ chức đều có thể
nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo của tổ chức mình khi họ thực hiện hành vi nguy
hiểm cho xã hội.
Tác
giả cho rằng, không phải cơ quan, tổ chức nào cũng đủ tư cách cam đoan rằng bị
can, bị cáo không tiếp tục phạm tội, không bỏ trốn; bảo đảm bị can, bị cáo có
mặt theo triệu tập của cơ quan tố tụng và không vi phạm các quy định về điều
kiện của bảo lĩnh. Thông thường chỉ các cơ quan, tổ chức nhà nước, đơn vị quân
đội hoặc cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, tổ chức nước ngoài hoạt
động hợp pháp tại Việt Nam mới đủ điều kiện để được nhận bảo lĩnh cho bị can,
bị cáo là cá nhân của mình; còn nếu bị can, bị cáo làm việc tại các tổ chức
kinh tế, tổ chức khác không được cơ quan có thẩm quyền công nhận thì sẽ không
được cho bảo lĩnh.
Một số kiến nghị
Từ
những những phân tích, đánh giá như trên về biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh, tác
giả đề xuất một số kiến nghị như sau:
Một là, việc áp dụng biện pháp này đối với
các bị can, bị cáo đang bị tạm giam thì cần có hướng dẫn đề làm rõ thuật ngữ “biện pháp thay thế tạm giam” theo hướng
áp dụng cả đối với bị can sau khi bị khởi tố nhưng thỏa mãn điều kiện áp dụng
như người bị bệnh nặng, người khuyết tật nặng…
Hai là, cần có hướng dẫn xác định rõ trường
hợp cụ thể nào được áp dụng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh; đồng thời quy định
đối tượng phạm loại tội nào được áp dụng biện pháp ngăn chặn này mà không quy
định mang tính chung chung như hiện nay là căn cứ vào “tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi và nhân thân của bị
can, bị cáo”. Theo quan điểm của tác giả, ngoài các điều kiện về nhân thân
của bị can, bị cáo thì cần áp dụng biện pháp ngăn chặn này đối với người thực
hiện hành vi phạm tội ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng do cố ý hoặc tội
phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng vô ý hoặc người phạm tội thỏa mãn
quy định tại khoản 2 Điều 54 của BLHS (người phạm tội lần đầu là người giúp sức
trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể); người phạm tội là người
bị bệnh nặng, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng (trừ nhóm tội
phạm xâm phạm an ninh quốc gia); người là trụ cột gia đình trong điều kiện hoàn
cảnh kinh tế gia đình khó khăn, phụ nữ có thai, nuôi con nhỏ dưới 36 tháng
tuổi; người già, bệnh nặng, người chưa thành niên… Có căn cứ xác định sau khi
được tại ngoại, bị can, bị cáo sẽ có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan tiến
hành tố tụng; việc cho bị can, bị cáo tại ngoại không gây ảnh hưởng đến an ninh
trật tự tại địa phương.
Không
áp dụng bảo lĩnh đối với bị can, bị cáo đã có tiền án chưa được xóa án tích mà
lại phạm tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng; bị can, bị cáo bị bắt
theo lệnh truy nã; là đối tượng phạm tội có tính chất chuyên nghiệp; người
nghiện ma túy; hành vi phạm tội của bị can, bị cáo gây dư luận trong xã hội.
Ba là, về điều kiện đối
với cơ quan, tổ chức nhận bảo lĩnh phải là cơ quan, tổ chức nơi bị can, bị cáo
làm việc. Cơ quan, tổ chức nhận bảo lĩnh ngoài cơ quan nhà nước, cơ quan của
đảng, đơn vị vị Quân đội, cơ quan đại diện ngoại giao thì các tổ chức phải là
tổ chức có tư cách pháp nhân được thành lập hợp pháp; người của tổ chức chính
trị xã hội; tổ chức tôn giáo từ cấp tỉnh trở lên.
Ngô
Thị Quế - VKSND khu vực 12