Nghiên cứu pháp luật: Hình thức của giao dịch dân sự và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hình thức của giao dịch dân sự

Giao dịch dân sự là một trong những phương thức phổ biến nhất để duy trì sự phát triển của xã hội qua các thời kỳ. Các nhu cầu hằng ngày của con người trong sinh hoạt, lao động, sản xuất, kinh doanh… có thể được đáp ứng thông qua giao dịch dân sự. Con người chỉ có thể nhận biết được sự tồn tại của giao dịch dân sự và thực hiện giao dịch đó khi được thể hiện ra bên ngoài bằng một hình thức nhất định, gọi là hình thức của giao dịch dân sự. Trong quá trình giao kết, thực hiện, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự hoặc khi các bên trong giao dịch dân sự xảy ra tranh chấp thì hình thức của giao dịch dân sự là một trong những yếu tố quan trọng được đưa ra xem xét, đánh giá. Do vậy, để thúc đẩy sự phát triển của xã hội trong khuôn khổ pháp luật, đòi hỏi Nhà nước phải ban hành các văn bản pháp luật điều chỉnh đối với hình thức của giao dịch dân sự. Tuy nhiên, đến nay vẫn còn một số văn bản pháp luật, nhất là Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 còn có một số quy định không phù hợp, chưa rõ ràng, dẫn tới nhiều cách hiểu khác nhau, nhận thức không thống nhất trong quá trình áp dụng và giải quyết tranh chấp.

anh tin bai

Ảnh minh họa: nguồn Internet

Qua nghiên cứu, phân tích, đánh giá quy định pháp luật về hình thức của giao dịch dân sự, gắn với thực tiễn áp dụng pháp luật, nhận thấy còn nhiều bất cập. Để thống nhất trong nhận thức và áp dụng pháp luật liên quan đến hình thức của giao dịch, tác giả đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hình thức của giao dịch dân sự một số nội dung như sau:

1. Một số thuật ngữ liên quan được quy định trong BLDS và văn bản pháp luật liên quan đến nay chưa có quy định giải thích, có thể dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau. Để thống nhất nhận thức, đề xuất bổ sung quy định về khái niệm đối với một số thuật ngữ này:

- Khái niệm về hình thức của giao dịch dân sự là sự biểu hiện ra bên ngoài, là phương tiện truyền đạt, cách thức thể hiện của nội dung giao dịch dân sự mà thông qua đó các bên trong giao dịch dân sự và bên thứ ba có thể nhận biết được sự tồn tại của giao dịch dân sự.

- Khái niệm về hành vi pháp lý đơn phương là hành vi xuất phát từ ý chí của một chủ thể làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.

- Khái nhiệm chứng thực là việc các cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền chứng thực xác nhận tính chính xác, có thật của các tài liệu, chữ ký, con dấu của cơ quan, tổ chức, cá nhân, các sự kiện pháp lý, thông tin liên quan… theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

2. Một số quy định của BLDS không phù hợp, đề nghị sửa đổi, bổ sung cho phù hợp:

- Để phù hợp với quy định “Trường hợp luật quy định giao dịch dân sự phải thể hiện bằng…” tại khoản 2 Điều 119 BLDS năm 2015, tức là hình thức bắt buộc của giao dịch dân sự phải do “luật quy định”, cần thống nhất sử dụng thuật ngữ “luật” thay cho “pháp luật” trong một số quy định về hình thức bắt buộc của một số giao dịch dân sự cụ thể, như: khoản 2 Điều 455 BLDS năm 2015 nên sửa thành“Hợp đồng trao đổi tài sản phải được lập thành văn bản, có công chứng, chứng thực hoặc đăng ký, nếu luật có quy định”; khoản 1 Điều 502 BLDS năm 2015 nên sửa thành “Hợp đồng về quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản theo hình thức phù hợp với quy định của Bộ luật này và Luật Đất đai”…

- “Đăng ký” là thủ tục hành chính, không phải hình thức của giao dịch dân sự, nên bỏ “đăng ký” ra khỏi quy định về hình thức của giao dịch dân sự, tại khoản 2 Điều 119 BLDS năm 2015 chỉ nên quy định “Trường hợp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực thì phải tuân theo quy định đó”.

- Nên bổ sung quy định riêng về “đăng ký” là thủ tục hành chính tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của luật, là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp luật có quy định; trường hợp vi phạm thủ tục đăng ký, nhưng một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó.

- Theo quy định tại khoản 2 Điều 132 BLDS năm 2015 thì khi hết thời hiệu mà chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoặc chủ thể khác có quyền, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu về hình thức thì giao dịch dân sự đó có hiệu lực. Đây là quy định mới, tuy nhiên không hợp lý và không khả thi. Bởi các lý do: Thứ nhất, giao dịch dân sự vô hiệu về hình thức không làm phát sinh hiệu lực kể từ thời điểm giao kết, trường hợp các bên đã thực hiện giao dịch còn phải gánh chịu hậu quả pháp lý của giao dịch vô hiệu theo quy định tại Điều 131 BLDS năm 2015, do vậy, không có lý do gì khi hết thời gian 02 năm kể từ ngày giao dịch được xác lập mà giao dịch đó lại đương nhiên có hiệu lực được. Mặt khác, nếu giao dịch dân sự không tuân thủ quy định về hình thức mà không được Tòa án công nhận hiệu lực bằng bản án, quyết định thì cũng không thể có hiệu lực và thực hiện được trên thực tế vì mâu thuẫn với luật chuyên ngành. Ví dụ như: A và B ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bằng văn bản, không công chứng, chứng thực. Quá 02 năm kể từ ngày giao dịch được xác lập mà A hoặc B đều không có yêu cầu tuyên bố giao dịch vô hiệu, tức là đã hết thời hiệu yêu cầu. Trường hợp này bên mua sẽ không thể sử dụng hợp đồng này để đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xác lập quyền sử dụng đất do mâu thuẫn với quy định của Luật Đất đai. Do vậy, nên sửa đổi, bổ sung quy định tại khoản 2 Điều 132 BLDS năm 2015 theo hướng loại trừ đối với giao dịch dân sự không tuân thủ quy định về hình thức, để đảm bảo phù hợp với luật chuyên ngành và khả thi trên thực tế, đề nghị sửa thành: “Hết thời hiệu quy định tại khoản 1 Điều này mà không có yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu thì giao dịch dân sự có hiệu lực, trừ trường hợp quy định tại điểm đ khoản 1 Điều này”.

3. Ban hành văn bản pháp luật hướng dẫn một số quy định liên quan đến hình thức của giao dịch dân sự:

- Hiện nay có 02 Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao (Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16/4/2003, số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004) có nhiều nội dung hướng dẫn áp dụng pháp luật khi giải quyết tranh chấp liên quan đến hình thức của giao dịch dân sự. Tuy nhiên, hai nghị quyết này hướng dẫn quy định của BLDS đã hết hiệu lực, có một số nội dung mâu thuẫn với nhau, nhiều nội dung không còn phù hợp với quy định của BLDS hiện hành. Thực tiễn xét xử cho thấy có nơi Viện kiểm sát, Tòa án vẫn áp dụng tinh thần của các Nghị quyết này, có nơi lại không áp dụng, dẫn đến không thống nhất về đường lối giải quyết tranh chấp. Do vậy, cần thiết ban hành hướng dẫn mới để thống nhất trong việc áp dụng.

- Hướng dẫn cụ thể tiêu chí định lượng “hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch” theo hướng: Việc xác định một hoặc các bên đã thực hiện ít nhất 2/3 nghĩa vụ trong giao dịch được hiểu là nghĩa vụ của mỗi bên trong giao dịch, không phải tổng nghĩa vụ, nghĩa vụ có thể là nghĩa vụ về tài sản thì phải thực hiện ít nhất 2/3 trị giá tài sản được thỏa thuận trong giao dịch, không bao gồm thuế, phí… hoặc nghĩa vụ là công việc thì phải thực hiện được ít nhất 2/3 công việc phù hợp với tiến độ nếu có thỏa thuận…

- BLDS năm 2015 có quy định về sự vô hiệu của hợp chính, hợp đồng phụ, tuy nhiên, không có quy định về cách tính xác định thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu đối với hợp đồng chính, hợp đồng phụ. Theo quy định tại khoản 4 Điều 402 BLDS năm 2015 thì hợp đồng phụ là hợp đồng mà hiệu lực phụ thuộc vào hợp đồng chính. Như vậy, thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu đối với hợp đồng phụ có phụ thuộc vào hợp đồng chính hay không, trong khi thời điểm xác lập của các hợp đồng này có thể xảy ra trường hợp không trùng nhau. Do vậy, cần có hướng dẫn về cách xác định thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu đối với hợp đồng chính, hợp đồng phụ theo hướng không phụ thuộc mà vẫn áp dụng nguyên tắc thời hiệu yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu về hình thức tính từ thời điểm giao dịch được xác lập.

- BLDS năm 2015 có quy định “Giao dịch dân sự vô hiệu từng phần khi một phần nội dung của giao dịch dân sự vô hiệu nhưng không ảnh hưởng đến hiệu lực của phần còn lại của giao dịch” (Điều 130). Tuy nhiên, tiêu chí đánh giá thế nào là “không ảnh hưởng đến hiệu lực của phần còn lại của giao dịch” thì BLDS năm 2015 không quy định và chưa có hướng dẫn. Do vậy, cần có quy định hướng dẫn tiêu chí đánh giá để tránh tùy nghi trong việc xác định giao dịch vô hiệu từng phần hay toàn bộ.

- Hướng dẫn một số quy định về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu tại Điều 131 BLDS năm 2015, như: “khôi phục lại tình trạng ban đầu” là tình trạng trước khi một bên hoặc các bên thực hiện giao dịch (khoản 2); “bên ngay tình” bao gồm một bên hoặc các bên trong giao dịch hoặc bên thứ ba ngay tình (khoản 3); “bên có lỗi” được hiểu là lỗi của một bên hoặc các bên trong giao dịch dẫn đến việc giao dịch dân sự vô hiệu, gây thiệt hại cho chủ thể khác thì phải bồi thường tương ứng với mức độ lỗi (khoản 4).

- Thực tiễn xét xử cho thấy, khi tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm quy định về hình thức, có trường hợp Tòa án giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch vô hiệu, có trường hợp không giải quyết hoặc có giải quyết nhưng không có căn cứ, không khả thi... Bộ luật Tố tụng dân sự và văn bản hướng dẫn thi hành cũng không có quy định bắt buộc phải giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu. Do vậy, cần có văn bản pháp luật hướng dẫn về việc khi giải quyết vụ án liên quan đến tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu, Tòa án phải giải thích cho đương sự biết về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu, giải quyết khi đương sự có yêu cầu, trường hợp đã giải thích nhưng các đương sự không có yêu cầu giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch vô hiệu thì Tòa án phải ghi nhận trong bản án.

- Việc xác định lỗi, mức độ lỗi, trách nhiệm bồi thường của Tòa án hiện nay còn mang tính tùy nghi, phụ thuộc vào ý chí chủ quan của Thẩm phán khi giải quyết. Do vậy, cần có văn bản pháp luật hướng dẫn về vấn đề xác định lỗi, mức độ lỗi, cách xác định thiệt hại và trách nhiệm bồi thường để đảm bảo thống nhất trong việc áp dụng pháp luật và giải quyết tranh chấp trên thực tế.

4. Sửa đổi, bổ sung một số quy định liên quan đến hình thức của di chúc:

- Bổ sung thêm hình thức di chúc đối với hình thức ghi âm, ghi hình hoặc dữ liệu điện tử khác đối với di chúc để phù hợp với sự phát triển của xã hội hiện đại.

- Bổ sung vào Điều 634 BLDS năm 2015 đối với người làm chứng ký hoặc điểm chỉ vào di chúc. Trường hợp có căn cứ xác định chữ ký, điểm chỉ đúng là của người lập di chúc và có người làm chứng sau này xác nhận thì những trường hợp này nên xem xét công nhận di chúc để đảm bảo tôn trọng ý chí của người lập di chúc.

- Khoản 2 Điều 630 BLDS năm 2015 nên bổ sung quy định về hình thức di chúc miệng và có quy định rõ về hình thức, thời điểm thể hiện sự đồng ý của cha, mẹ hoặc người giám hộ đối với việc lập di chúc của người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi nhằm đảm bảo tôn trọng ý chí và đảm bảo quyền lợi cho nhóm đối tượng này.

- Bổ sung loại trừ trường hợp bất khả kháng do thiên tai, dịch bệnh hoặc lý do chính đáng khác mà người làm chứng không thực hiện được việc công chứng hoặc chứng thực di chúc miệng vào khoản 5 Điều 630 BLDS năm 2015.

- Đối với di chúc miệng sau đó đã được người làm chứng thực hiện việc công chứng, chứng thực theo quy định thì không nên quy định bị mặc nhiên huỷ bỏ theo quy định tại Điều 629 BLDS năm 2015, mà chỉ huỷ bỏ khi có ý chí của người lập di chúc.

- Cần có quy định về hình thức, thủ tục liên quan đến việc rút hoặc hủy bỏ di chúc đã được công chứng, chứng thực.

- Khi giải quyết các vụ án tranh chấp chia di sản thừa kế, việc trích trả công sức cho người quản lý di sản khi chia di sản thừa kế không thống nhất trong thực tiễn giải quyết. Theo tác giả, việc trích trả công sức cho người quản lý di sản là cần thiết nhằm đảm bảo quyền lợi chính đáng của người quản lý di sản trong việc tôn tạo, duy trì giá trị của di sản. Do “công sức quản lý di sản” không đồng nghĩa với “chi phí bảo quản di sản” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 618 BLDS năm 2015, nên bổ sung quy định về quyền của người quản lý di sản là “Được thanh toán chi phí bảo quản di sản, trích trả công sức quản lý di sản”. Bên cạnh đó, cần có hướng dẫn về cách thức, định mức trích trả như thế nào, ưu tiên trích trả bằng hiện vật hay trị giá bằng tiền… để thống nhất trong việc áp dụng pháp luật khi giải quyết tranh chấp.

5. Ban hành quy định hướng dẫn về trách nhiệm bồi thường đối với cơ quan, tổ chức thực hiện hoạt động công chứng, chứng thực và các cá nhân có liên quan:

Thực tiễn giải quyết tranh chấp liên quan đến hình thức của giao dịch dân sự cho thấy, có nhiều giao dịch dân sự đã được công chứng, chứng thực nhưng vẫn bị Tòa án tuyên bố vô hiệu, trong đó có trường hợp có trách nhiệm của Văn phòng công chứng, Công chứng viên trong hoạt động công chứng, UBND cấp xã và cá nhân có thẩm quyền trong hoạt động chứng thực. Tuy nhiên, khi giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu, các Tòa án thường chỉ xem xét xác định lỗi, mức độ lỗi, thiệt hại và trách nhiệm bồi thường của các bên đương sự mà ít khi xem xét đến trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan có vi phạm quy định về hoạt động công chứng, chứng thực, là một trong những nguyên nhân dẫn đến giao dịch bị tuyên vô hiệu. Đối với trường hợp này, tác giả đề xuất nên có quy định buộc cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền trong hoạt động công chứng, chứng thực phải có trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại.

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu các quy định pháp luật, tìm hiểu tình hình tranh chấp về giao dịch dân sự và thực tiễn áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp liên quan đến hình thức của giao dịch dân sự cho thấy: Hiện nay các tranh chấp về hình thức của giao dịch xảy ra tương đối nhiều và đa dạng, trong đó phổ biến liên quan đến giao dịch về quyền sử dụng đất và thừa kế theo di chúc, nhiều giao dịch dân sự bị tuyên vô hiệu do vi phạm quy định về hình thức. Nguyên nhân dẫn đến thực trạng vi phạm quy định về hình thức của giao dịch là: Chủ thể tham gia giao dịch còn thiếu hiểu biết pháp luật về điều kiện có hiệu lực của giao dịch hoặc còn có tâm lý “ngại” đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện việc công chứng, chứng thực, đăng ký giao dịch theo quy định pháp luật; Cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động công chứng, chứng thực, đăng ký còn tình trạng thiếu trách nhiệm hoặc yếu kém về nghiệp vụ dẫn đến giao dịch vô hiệu… Việc áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp về hình thức của giao dịch còn chưa thống nhất, do một số quy định pháp luật chưa rõ ràng, chưa có hướng dẫn thống nhất, dẫn đến việc áp dụng khác nhau, cũng có trường hợp là do năng lực, trình độ của người tiến hành tố tụng còn hạn chế… Tác giả đã đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật và mong muốn nhận được ý kiến tham gia của đồng nghiệp, sự quan tâm của cấp có thẩm quyền để giải quyết những bất cập trong thực tiễn./.

                                                                               Bùi Thị Nhuần - Phó Viện trưởng

VKSND khu vực 10 - Hải Phòng


Ứng dụng hỗ trợ nghiệp vụ

Tin tức
Thông tin cần biết
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1

Trang thông tin điện tử: VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG - Cơ quan chủ quản: VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO
Địa chỉ: Lô 18A, Lê Hồng Phong, P. Hải An, TP Hải Phòng - Điện thoại: 02253.838308 - Fax: 02253.839072 - Email: vp_haiphong@vks.gov.vn
Trưởng ban biên tập: Phó Viện trưởng Nguyễn Mạnh Vỹ
Số giấy phép: 03/GP-STTTT do Sở Thông tin và Truyền thông TP Hải Phòng cấp ngày 17 tháng 10 năm 2017 (Giấy phép có giá trị 10 năm)
Bản quyền thuộc về VKSND TP Hải Phòng - Thiết kế bởi VNPT | Quản trị

Chung nhan Tin Nhiem Mang