Những điểm mới và thời hạn trong Luật THADS sửa đổi, bổ sung năm 2025
Ngày 05/12/2025, tại Kỳ họp thứ
10, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15, có
hiệu lực từ ngày 01/7/2026. Luật đã thể chế hoá đầy đủ, kịp thời chủ trương, đường
lối của Đảng về cải cách tư pháp, hoàn thiện và tăng cường hiệu lực, hiệu quả tổ
chức thi hành pháp luật; đồng thời khắc phục những bất cập, hạn chế từ thực tiễn
17 năm thi hành Luật.
Luật THADS (sửa đổi) gồm 05
Chương, 116 điều. Những điểm mới của Luật tập trung vào 09 nhóm vấn đề lớn sau:
1. Luật THADS năm 2025 đã thể chế hóa Kết luận số 162-KL/TW
ngày 06/6/2025 của Bộ Chính trị về mô hình cơ quan THADS một cấp ở địa phương
nhằm tinh gọn tổ chức bộ máy hệ thống THADS, bảo đảm hoạt động hiệu lực, hiệu
quả
Luật quy định hệ thống THADS được
tổ chức thống nhất từ Trung ương đến địa phương, quy định mô hình cơ quan THADS
một cấp, trong đó có các Phòng THADS khu vực. Đồng thời, để bảo đảm hiệu lực,
hiệu quả hoạt động THADS của các Phòng THADS khu vực, Luật đã quy định Trưởng
phòng Phòng THADS khu vực là Chấp hành viên trưởng.
Chấp hành viên trưởng là chức danh
tư pháp, thực hiện một số nhiệm vụ quyền hạn theo ủy quyền của Thủ trưởng của
cơ quan THADS; hướng dẫn, chỉ đạo chuyên môn, nghiệp vụ tổ chức thi hành án đối
với Chấp hành viên tại Phòng THADS khu vực. Việc bổ sung chức danh Chấp hành
viên trưởng cũng nhằm bảo đảm hiệu lực, hiệu quả trong công tác phối hợp với
các cơ quan tố tụng và cơ quan liên quan trên địa bàn.
2. Quy định về việc gửi lại yêu cầu thi hành án
Đây là một trong những giải pháp
nhằm giảm án tồn, xử lý những vụ việc thi hành án chưa có điều kiện thi hành
kéo dài nhiều năm mà Nhà nước vẫn phải đảm bảo nhân lực, vật lực để theo dõi,
xác minh định kỳ, gây lãng phí ngân sách.
Quy định gửi lại yêu cầu thi hành
án vẫn bảo đảm thực hiện đầy đủ trách nhiệm của cơ quan THADS, bảo đảm quyền, lợi
ích hợp pháp của đương sự, đồng thời, tạo điều kiện cho người dân có quyền yêu
cầu Văn phòng THADS tổ chức thi hành án; bất kỳ giai đoạn nào sau khi được gửi
lại tài liệu yêu cầu thi hành án, nếu phát hiện người phải thi hành án có điều
kiện thi hành thì người yêu cầu đều có quyền yêu cầu thi hành án trở lại, thời
gian gửi lại yêu cầu thi hành án không bị tính vào thời hiệu yêu cầu thi hành
án.
Ảnh minh hoạ
3. Quy định về quản lý kho vật chứng
Luật đã sửa đổi quy định về trách
nhiệm bảo quản vật chứng theo hướng: vật chứng tiếp tục được lưu giữ tại kho của
cơ quan Công an nhân dân, Quân đội nhân dân, cơ quan được giao nhiệm vụ
tiến hành một số hoạt động điều tra cho đến khi bản án của Tòa án có hiệu
lực pháp luật. Quy định này nhằm hạn chế việc phải di chuyển vật chứng qua các
kho khác nhau, gây tốn kém chi phí, nhân lực và nguy cơ mất mát, hư hỏng vật chứng;
đồng thời, giúp bảo đảm an toàn vật chứng, nhất là đối với các loại vật chứng đặc
thù như ma túy, vũ khí...; phù hợp với thực tế cơ quan THADS không có lực lượng
chuyên nghiệp để bảo vệ vật chứng và Nhà nước không phải đầu tư ngân sách cho cả
hai hệ thống kho như hiện nay.
4. Ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số mạnh mẽ trong
hoạt động thi hành án dân sự
Thể chế hóa Nghị quyết 57-NQ/TW
ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị, Luật THADS (sửa đổi) đã bổ sung nhiều quy định
ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong hoạt động THADS (như: Điều 5 ứng
dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong hoạt động THADS, Điều 9 về điều
kiện bảo đảm cho công tác THADS, Điều 35 về thông báo qua phương tiện điện tử,
Điều 37 về ứng dụng công nghệ thông tin trong xác minh, Điều 54 về thanh toán
qua chuyển khoản...). Đây sẽ là những quy định có tính bước ngoặt, tạo thuận lợi
cho cơ quan THADS, Chấp hành viên trong quá trình tổ chức thi hành án. Để tạo
cơ sở pháp lý kịp thời triển khai trên thực tế, một số quy định về ứng dụng
công nghệ thông tin, chuyển đổi số tại Luật sẽ có hiệu lực sớm.
5. Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo, phối hợp của chính quyền
địa phương; trách nhiệm phối hợp, hỗ trợ của các cơ quan, tổ chức trong hoạt động
thi hành án dân sự theo mô hình chính quyền địa phương 02 cấp
Tiếp tục khẳng định vai trò quan
trọng của chính quyền địa phương trong công tác THADS, Luật quy định rõ nhiệm vụ,
quyền hạn của chính quyền địa phương trong lãnh đạo, chỉ đạo công tác THADS
trên địa bàn, đặc biệt là UBND cấp xã, cơ quan chuyên môn thuộc UBND các cấp,
phù hợp với mô hình sau sắp xếp.
6. Quy định về thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát nhân
dân với những vụ việc thi hành án đã kết thúc
Nhằm bảo đảm hiệu lực, hiệu quả của
công tác THADS, bảo đảm tính ổn định của các quan hệ xã hội, bảo vệ quyền, lợi
ích hợp pháp của đương sự, đồng thời, tăng cường trách nhiệm của các cơ quan
liên quan trong THADS, Luật đã bổ sung quy định về thời hạn kháng nghị của
VKSND đối với các vụ việc thi hành án đã kết thúc là 01 năm kể từ ngày Viện kiểm
sát được thông báo về kết thúc việc thi hành án.
7. Bổ sung quy định xử lý khoản tiền đã tạm thu trong nhiều
năm nhưng chưa có phương án giải quyết
Thực hiện chủ trương của Đảng,
chính sách của Nhà nước về tránh lãng phí, tiêu cực, khơi thông các nguồn lực
xã hội, Luật bổ sung quy định về cơ chế xử lý đối với khoản tiền đã tạm thu
đang bị tồn đọng nhiều năm qua. Theo đó, sau 05 năm tạm thu mà không nhận được
bản án, quyết định của Tòa án thì khoản tiền trên sẽ được sung công, sau khi
sung công, trường hợp nhận được bản án, quyết định của Tòa án thì cơ quan thi
hành án dân sự thực hiện thoái thu theo quy định của pháp luật để thi hành theo
nội dung bản án, quyết định.
8. Đơn giản hóa thủ tục, rút ngắn thời gian, giảm thiểu chi
phí tổ chức thi hành án
Thực hiện yêu cầu về “đơn giản hóa
thủ tục, rút ngắn thời gian, giảm thiểu chi phí” theo Nghị quyết số 27-NQ/TW
ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, từng thời hạn,
thủ tục trong quy trình tổ chức thi hành án đã được rà soát kỹ lưỡng để sửa đổi
theo hướng đơn giản hóa, rút ngắn thời gian, giảm chi phí nhưng vẫn phải bảo đảm
quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự.
Một số nội dung nổi bật như: (1)
Quy định thông báo thi hành án trên môi trường số bên cạnh các phương thức khác
nhằm giải quyết khó khăn, giảm chi phí, đặc biệt là trong các vụ đại án; (2)
Quy định cơ quan THADS chủ động ra quyết định thi hành án đối với khoản bồi thường
trong trường hợp cơ quan THADS đã thu được tiền ở giai đoạn tố tụng mà không cần
chờ đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án; (3) Sửa đổi quy định về
thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo hướng nhanh gọn,
phù hợp với tính chất phải kịp thời của loại quyết định này...
9. Tiếp tục thực hiện xã hội hóa hoạt động thi hành án dân sự
Tiếp tục thực hiện chủ trương xã hội
hóa một số hoạt động THADS đã được Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ
Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đề ra, đặc biệt là Nghị
quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương, Luật đã bổ sung
các quy định về Thừa hành viên và Văn phòng THADS với những nội dung chính như:
- Đổi tên Thừa phát lại thành Thừa
hành viên và đổi tên Văn phòng Thừa phát lại thành Văn phòng THADS để bảo đảm
tính phổ thông, dễ hiểu hơn, phù hợp với phạm vi, tính chất hoạt động THADS của
tổ chức này.
- Về nhiệm vụ, quyền hạn: Thừa
phát lại tiếp tục được thực hiện 04 thủ tục thi hành án theo Nghị định số
08/2020/NĐ-CP. Bên cạnh đó, so với Nghị định số 08/2020/NĐ-CP, Luật đã mở rộng
thẩm quyền của Thừa phát lại về 04 thủ tục sau: (i) Được ra quyết định thi hành
án; (ii) Được đề nghị Tòa án xác định, phân chia, xử lý tài sản chung để thi
hành án; (iii) Được yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu; (iv) Được yêu cầu
Tòa án giải quyết tranh chấp tài sản thi hành án.
Đồng thời, Thừa phát lại được thực
hiện thêm 01 thủ tục: “Thừa hành viên được đề nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền
thực hiện phong toả tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ; tạm ngừng giao dịch, tạm
dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng, thay đổi hiện trạng tài
sản”.
* Lưu ý các thời hạn, thời hiệu quy định tại Luật Thi hành
án dân sự năm 2025 sửa đổi, bổ sung
1.
Về thời hạn để cơ quan ra bản án, quyết định có văn bản sửa chữa, bổ sung bản án, quyết định (Điều
13)
Điều 13 quy định trách nhiệm
của cơ quan ra bản án, quyết định phải có văn bản sửa chữa, bổ sung bản án, quyết
định khi phát hiện lỗi rõ ràng về chính tả, về số liệu do nhầm lẫn hoặc tính
toán sai, giải thích bản án, quyết định tuyên không rõ, khó thi hành trong thời
hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu của đương sự, cơ quan
thi hành án dân sự hoặc văn phòng thi hành án dân sự;
Đối với vụ việc phức tạp
thì thời hạn trả lời không quá 45 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu.
2. Về việc tổ chức thi hành án của văn phòng thi hành án
dân sự, Thừa hành viên (Điều 31)
- Về thời hạn ra quyết định thi hành án của Trưởng văn phòng
thi hành án dân sự là trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày
ký hợp đồng dịch vụ (khoản 4 Điều 31).
-
Việc thi hành án của văn phòng thi hành án dân sự chấm dứt và các bên thanh lý
hợp đồng dịch vụ khi người phải thi hành án yêu cầu thi hành án mà không thi
hành xong toàn bộ nghĩa vụ theo bản án, quyết định trong thời hạn 30 ngày
kể từ ngày ra quyết định thi hành án (Điểm đ khoản 5 Điều 31).
- Thời hạn để Trưởng văn phòng thi hành án dân sự thu
hồi quyết định thi hành án và chuyển hồ sơ thi hành án cho cơ quan thi hành án
dân sự có thẩm quyền: Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày thanh lý hợp đồng theo quy
định tại điểm d khoản 5 Điều THADS năm 2025 “người yêu cầu có văn bản đề nghị
Văn phòng THADS chấm dứt để chuyển cơ quan THADS áp dụng biện pháp bảo đảm, biện
pháp cưỡng chế” (khoản 6 Điều 31).
-
Thời hạn để Thủ
trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án và tổ chức thi hành
án khi Văn phòng THADS chuyển hồ sơ: Trong
thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ (khoản 6 Điều
31).
- Thời hạn để văn phòng thi
hành án dân sự phải thông báo cho Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền và cơ
quan thi hành án dân sự cùng địa bàn tỉnh, thành phố về việc thanh lý hợp đồng:
Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày thanh lý hợp đồng dịch
vụ theo quy định tại khoản 5 Điều 31.
3. Về thời hạn chuyển giao, gửi bản án, quyết định cho cơ
quan thi hành án (Điều 33)
Thực hiện theo quy định của
pháp luật về tố tụng. Trường hợp pháp luật không có quy định thì cơ quan ra bản
án, quyết định phải chuyển giao bản án, quyết định cho cơ quan thi hành án dân
sự trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án, quyết định hoặc phần
bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật.
4. Về thời hạn chủ động ra
quyết định thi hành án (khoản 3 Điều 33) như sau:
- Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được
bản án, quyết định quy định tại các điểm a, b, c, d, đ và h khoản 2 Điều này và
bản sao biên bản về việc kê biên, tạm giữ tài sản, thu giữ vật chứng hoặc tài
liệu khác có liên quan (nếu có);
- Ngay
sau khi nhận được quyết định quy định tại điểm e khoản 2 Điều này;
- Trong thời hạn 03
ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định quy định tại điểm g khoản
2 Điều này.
5.
Về thời hiệu yêu cầu thi hành án và ra quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu
(Điều 34)
- Thời hiệu yêu cầu thi
hành án là 05 năm kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp
luật hoặc kể từ ngày nghĩa vụ đến hạn.
- Về
thời hạn để Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án
trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu thi
hành án.
Trường hợp pháp luật có quy
định điều kiện để bản án, quyết định được thi hành thì thời hạn ra quyết định
thi hành án là 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông tin về
điều kiện đó.
-
Về thời hạn để từ chối yêu cầu thi hành án, thông báo cho người yêu cầu là trong
thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu thi hành
án khi thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 34.
6. Về thời hạn gửi thông báo thi hành án, gửi quyết định về thi hành án (Điều
35)
-
Về thời hạn thông báo trong thi hành án dân sự: trong thời hạn 03
ngày làm việc kể từ ngày ra văn bản.
- Về thời hạn gửi quyết định
về thi hành án cho Viện kiểm sát nhân dân: trong thời hạn 03 ngày làm việc
kể từ ngày ra quyết định.
7.
Về thời hạn tự nguyện (Điều 36)
Thời
hạn tự nguyện thi hành án là 10 ngày kể từ ngày người phải thi
hành án được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án, trừ trường hợp thi hành
quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.
8.
Về thời hạn xác minh điều kiện thi hành án (Điều 37)
- Về thời hạn xác minh: Trong thời hạn
09 ngày kể từ ngày hết thời hạn tự nguyện thi hành án, trường hợp
thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì tiến hành xác
minh ngay.
- Về thời hạn xác
minh lại trong trường hợp cần thiết: Việc xác minh lại được tiến hành trong thời
hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được kết quả xác minh do
đương sự cung cấp hoặc nhận được kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân.
- Về thời hạn để các cơ quan, tổ chức,
cá nhân đang nắm giữ thông tin hoặc quản lý tài sản, tài khoản của người phải
thi hành án trả lời bằng văn bản khi nhận được yêu cầu xác minh: trong thời hạn
03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu; đối với thông tin
về tài khoản hoặc trường hợp thi hành biện pháp khẩn cấp tạm thời thì phải cung
cấp ngay.
- Về thời hạn để cơ quan có thẩm quyền
quản lý, đăng ký tài sản có trách nhiệm cung cấp thông tin về người có quyền sở
hữu, quyền sử dụng tài sản: trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ
ngày nhận được yêu cầu.
9.
Về thời hạn liên quan đến việc chưa có điều kiện thi hành (Điều 38)
-
Về thời hạn ra quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án: trong thời hạn
05 ngày làm việc kể từ ngày có một trong các căn cứ quy định tại
khoản 1 Điều 38 Luật THADS năm 2025.
-
Về thời hạn xác minh điều kiện thi hành án sau khi đã ra quyết định về việc
chưa có điều kiện thi hành án:
+ Trong
thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được văn bản của đương sự hoặc
cơ quan, tổ chức, cá nhân khác cung cấp thông tin mới về điều kiện thi hành án
của người phải thi hành án
+
ít nhất 06 tháng một lần đối
với các trường hợp thông thường; đối với người đang chấp hành hình phạt tù mà
thời gian chấp hành hình phạt tù còn lại từ 02 năm trở lên hoặc không xác định
được địa chỉ, nơi cư trú mới của người phải thi hành án thì ít nhất 01
năm một lần.
- Về thời hạn gửi lại yêu cầu thi hành án: Hết thời
hạn 02 năm kể từ ngày có quyết định về việc chưa có điều kiện thi
hành án và đã xác minh theo quy định tại khoản 3 Điều 38 (sau 2 lần
xác minh) mà không có thông tin mới về điều kiện thi hành án của người
phải thi hành án.
10. Về
các thời hạn trong thủ tục xác định
tài sản và xử lý tranh chấp tài sản của người phải thi hành án (Điều 39)
- Thời hạn để người phải thi hành
án, người được thi hành án và người có quyền sở hữu chung thỏa thuận phân chia
tài sản chung hoặc yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền
sử dụng đất: 30 ngày kể từ ngày được thông báo.
- Thời hạn để đương
sự, người có tranh chấp khởi kiện tại Tòa án hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền
giải quyết: thời hạn 30 ngày kể từ ngày được thông báo.
- Thời hạn để người được thi hành án
để yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm
quyền hủy giấy tờ liên quan đến giao dịch: 15 ngày kể từ ngày được
thông báo.
11. Về thời hạn ra quyết định chuyển
giao quyền, nghĩa vụ (Điều 41)
Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được
văn bản của cơ quan có thẩm quyền hoặc xác định được người nhận chuyển giao.
12. Về thời hạn khi áp dụng điều kiện miễn, giảm nghĩa vụ thi
hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước (Điều 42)
- Người phải thi hành án được xét miễn
nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước khi có đủ các điều
kiện sau đây:
a) Không có tài sản hoặc có tài sản
nhưng tài sản đó theo quy định của pháp luật không được xử lý để thi hành án hoặc
không có thu nhập hoặc có thu nhập nhưng chỉ bảo đảm cuộc sống tối thiểu cho
người phải thi hành án và người mà họ có trách nhiệm nuôi dưỡng;
b) Hết thời hạn 05 năm
kể từ ngày ra quyết định thi hành án mà phần nghĩa vụ còn lại có giá trị dưới
5.000.000 đồng hoặc hết thời hạn 10 năm kể từ ngày ra quyết định
thi hành án mà phần nghĩa vụ còn lại có giá trị từ 5.000.000 đồng đến
10.000.000 đồng.
- Người phải thi hành án thuộc trường
hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều này thì được xét giảm một phần nghĩa vụ
thi hành án khi có một trong các điều kiện sau đây:
a) Hết thời hạn 05 năm
kể từ ngày ra quyết định thi hành án mà phần nghĩa vụ còn lại có giá trị từ
5.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, mỗi lần giảm không quá một phần tư số tiền
còn lại phải thi hành án;
b) Hết thời hạn 10 năm
kể từ ngày ra quyết định thi hành án mà phần nghĩa vụ còn lại có giá trị từ
trên 100.000.000 đồng, mỗi lần giảm không quá một phần năm số tiền còn lại phải
thi hành án nhưng tối đa không quá 50.000.000 đồng.
13. Về thời
hạn liên quan đến thủ tục xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án (Điều 44)
- Thời hạn để
tòa thụ lý hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm: Trong thời hạn 02 ngày làm việc
kể từ ngày nhận được hồ sơ.
- Thời hạn để
Thẩm phán mở phiên họp xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án: Trong thời hạn 20
ngày kể từ ngày thụ lý hồ sơ.
- Thời hạn để
Tòa án phải gửi quyết định về việc miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án: Trong thời
hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định.
14. Về thời
hạn kháng nghị quyết định của Tòa án về miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án (Điều
45)
- Thời hạn
kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp là 07 ngày, của Viện kiểm
sát cấp trên trực tiếp là 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết
định.
- Thời hạn để
Tòa án đã ra quyết định miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án phải chuyển hồ sơ và
văn bản kháng nghị lên Tòa án cấp trên trực tiếp: Trong thời hạn 07 ngày
kể từ ngày nhận được quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát.
- Thời hạn để
Tòa án cấp trên trực tiếp mở phiên họp để xét kháng nghị: Trong thời hạn 15
ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ kháng nghị.
15. Về
các thời hạn trong hoãn thi hành án (Điều 46)
- Thời hạn ra quyết định hoãn thi
hành án: 05 ngày làm việc kể từ ngày có một trong các căn cứ quy
định tại khoản 1 Điều 46.
- Thời hạn ra quyết định hoãn khi nhận
được yêu cầu hoãn thi hành án của người có thẩm quyền kháng nghị: ra ngay.
- Thời hạn hoãn
thi hành án theo yêu cầu của người có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định không
quá 03 tháng, kể từ ngày ra văn bản yêu cầu hoãn thi hành án.
- Thời hạn
ra quyết định tiếp tục thi hành án: Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ khi
căn cứ hoãn thi hành án quy định tại khoản 1 Điều 46 không còn.
16. Về các thời hạn liên quan đến tạm đình chỉ (Điều 47)
- Về thời hạn ra quyết định tạm đình chỉ: trong thời hạn
05 ngày làm việc kể từ ngày có một trong các căn cứ quy định tại khoản 1 Điều
47.
- Thời hạn thông báo cho đương sự,
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về việc tạm đình chỉ thi hành án khi nhận
được quyết định tạm đình chỉ thi hành án của người có thẩm quyền kháng nghị bản
án, quyết định theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm hoặc quyết định tạm đình chỉ
việc thi hành quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Chủ tịch Ủy ban Cạnh
tranh Quốc gia: trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận
được quyết định.
- Thời hạn ra quyết định tiếp tục
thi hành án: trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ khi nhận được
một trong các quyết định quy định tại khoản 3 Điều 47.
17. Về thời
hạn ra quyết định đình chỉ (Điều 48)
Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự
ra quyết định đình chỉ một phần hoặc toàn bộ việc thi hành án trong thời hạn 05
ngày làm việc kể từ ngày có một trong các căn cứ quy định tại khoản 1
Điều 48.
18. Về các thời hạn
liên quan đến ủy thác (Điều 49)
- Thời hạn
ra quyết định ủy thác: Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày
xác định có căn cứ ủy thác thi hành án. Trường hợp thi hành quyết định áp dụng
biện pháp khẩn cấp tạm thời thì ra quyết định ủy thác thi hành án trong thời hạn
24 giờ kể từ khi có căn cứ.
- Thời hạn
để nơi nhận ủy thác ra quyết định thi hành án: Trong thời hạn 05 ngày làm
việc kể từ ngày nhận được quyết định ủy thác và các hồ sơ kèm theo. Trường
hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì phải ra
ngay quyết định thi hành án.
19. Về thời hạn
ra quyết định xử lý tài sản ủy thác (Điều 50)
Trong thời
hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định ủy thác xử
lý tài sản, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự nhận ủy thác ra quyết định xử
lý tài sản ủy thác.
20. Về thời hạn thanh toán tiền thi hành án (Điều 54)
Trong thời hạn 10 ngày
kể từ ngày thu được tiền thi hành án hoặc kể từ ngày giao tài sản cho người mua
được tài sản, người nhận tài sản để trừ vào tiền được thi hành án, Chấp hành
viên thực hiện việc thanh toán tiền thi hành án.
21. Về thời
hạn liên quan đến thi hành
khoản xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ bị tuyên tịch thu, sung quỹ nhà nước (Điều
57)
- Về thời
hạn cơ quan thi hành án dân sự thông báo và tiến hành giao vật chứng, tài sản tạm
giữ cho cơ quan tài chính cấp tỉnh hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có vật chứng,
tài sản để xử lý theo quy định của pháp luật: trong thời hạn 10 ngày
kể từ ngày ra quyết định thi hành án.
- Đối với
khoản tiền đã tạm thu trước khi có bản án, quyết định của Tòa án mà sau
05 năm kể từ ngày tạm thu không nhận được bản án, quyết định của Tòa án
thì cơ quan thi hành án dân sự thực hiện thủ tục sung công. Sau khi sung công,
trường hợp nhận được bản án, quyết định của Tòa án thì cơ quan thi hành án dân
sự thực hiện thoái thu theo quy định của pháp luật để thi hành theo nội dung bản
án, quyết định.
22. Về thời hạn
thành lập Hội đồng tiêu hủy vật chứng (Điều 58)
Trong thời
hạn 01 tháng kể từ ngày ra quyết định thi hành án đối với trường
hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 58 hoặc kể từ ngày có quyết định tiêu hủy
đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 58.
23. Về thời hạn
liên quan đến thủ tục trả lại tiền, tài sản cho đướng sự (Điều 59)
- Về thời hạn thông
báo cho đương sự về việc nhận tiền, tài sản trong trường hợp bản án, quyết định
tuyên: trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định thi hành án hoặc
kể từ ngày có căn cứ trả lại tiền, tài sản.
- Thời hạn để Chấp
hành viên thực hiện việc gửi số tiền đó vào Kho bạc Nhà nước hoặc gửi theo hình
thức tiết kiệm không kỳ hạn và thông báo về việc gửi tiền: Hết thời hạn 15
ngày kể từ ngày được thông báo mà đương sự không nhận.
- Thời hạn để Chấp hành viên thực hiện
thủ tục thẩm định giá, xác định giá, bán là: Hết thời hạn 30 ngày
kể từ ngày được thông báo mà đương sự không đến nhận; trường hợp tài sản là
hàng hóa, vật phẩm dễ bị hư hỏng thì hết thời hạn 05 ngày làm việc
kể từ ngày được thông báo mà đương sự không đến nhận.
Hết thời hạn 05 năm kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực
pháp luật hoặc 01 năm kể từ ngày thông báo đối với trường hợp thu
được tiền sau thời điểm 05 năm kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp
luật mà người được nhận tiền, tài sản không đến nhận thì Thủ trưởng cơ quan thi
hành án dân sự ra quyết định sung quỹ nhà nước và chuyển nộp số tiền đó vào
ngân sách nhà nước.
- Đối với giấy tờ liên quan đến tài
sản, nhân thân của đương sự thì hết thời hạn 03 tháng kể từ ngày
thông báo nếu đương sự không đến nhận, Chấp hành viên làm thủ tục chuyển giao
cho cơ quan đã ban hành giấy tờ đó để xử lý theo quy định của pháp luật.
24. Về thời hạn
liên quan đến thi hành quyết định
áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời (Điều 62)
Trong thời hạn 24 giờ
kể từ khi nhận được quyết định thi hành án theo phân công, Chấp hành viên thông
báo quyết định thi hành án cho đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan
đến việc thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để thi hành
25. Về thời hạn
áp dụng biện pháp cưỡng chế sau khi đã áp dụng biện pháp bảo đảm (Điều 66)
Sau khi ra quyết
định áp dụng biện pháp bảo đảm, trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày
có đủ căn cứ áp dụng biện pháp cưỡng chế thì Chấp hành viên áp dụng biện pháp
cưỡng chế theo quy định của Luật này.
26. Về thời
hạn liên quan đến thủ tục phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ (Điều 67)
Trường hợp cần phong tỏa ngay tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ của người phải
thi hành án mà chưa ban hành quyết định phong tỏa thì Chấp hành viên lập biên bản
yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý tài khoản, tài sản của người phải
thi hành án phong tỏa tài khoản, tài sản đó. Trong thời hạn 24 giờ
kể từ khi lập biên bản, Chấp hành viên phải ra quyết định phong tỏa tài khoản,
tài sản.
27. Về thời
hạn liên quan đến thủ tục tạm giữ giấy tờ (Điều 69)
Trường hợp cần tạm
giữ ngay tài sản, giấy tờ mà chưa ban hành quyết định tạm giữ tài sản, giấy tờ
thì Chấp hành viên yêu cầu giao tài sản, giấy tờ và lập biên bản về việc tạm giữ.
Trong thời hạn 24
giờ kể từ khi lập biên bản, Chấp hành viên phải ban hành quyết định tạm
giữ tài sản, giấy tờ. Biên bản, quyết định tạm giữ tài sản, giấy tờ phải được gửi
ngay cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp.
28. Về thời hạn
liên quan đến áp dụng biện pháp cưỡng chế (Điều 72)
- Không tổ chức cưỡng chế thi hành án trong thời gian từ
22 giờ đến 06 giờ sáng ngày hôm sau, các ngày nghỉ, ngày lễ theo quy định của
pháp luật và các trường hợp đặc biệt khác do Chính phủ quy định.
- Về thời hạn Công
an có trách nhiệm xây dựng kế hoạch và lập phương án bảo vệ cưỡng chế: Trong thời
hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đề nghị của cơ quan thi hành án dân sự.
- Về thời hạn Chấp
hành viên thông báo cho đương sự biết dự trù chi phí cưỡng chế: ít nhất 02
ngày làm việc trước ngày cưỡng chế đã được ấn định, trừ trường hợp cần
thiết phải cưỡng chế ngay.
29. Về thời hạn
liên quan đến khai thác tài sản (Điều 77)
Trường hợp tài sản chưa khai thác
thì Chấp hành viên yêu cầu người phải thi hành án ký hợp đồng để khai thác tài
sản với tổ chức, cá nhân có nhu cầu khai thác tài sản. Trong thời hạn 10
ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu mà người phải thi hành án không ký hợp
đồng để khai thác với người khác thì Chấp hành viên kê biên, xử lý tài sản đó để
thi hành án
30. Về thời hạn
thông báo việc thực hiện kê biên (Điều 88)
Trước khi kê biên tài sản là bất động sản ít nhất là 03
ngày làm việc, Chấp hành viên thông báo cho Viện kiểm sát nhân dân có
thẩm quyền, cơ quan có thẩm
quyền quản lý về đất đai, đại diện chính quyền cấp xã hoặc đại diện thôn, tổ dân phố nơi tổ chức cưỡng
chế, đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về thời gian, địa điểm,
tài sản kê biên, trừ trường hợp cần ngăn chặn đương sự tẩu tán, hủy hoại tài sản,
trốn tránh việc thi hành án;
31. Về thời hạn yêu cầu người khác có tài sản không
thuộc tài sản kê biên phải di dời, tháo dỡ (Điều 81)
Trường hợp có tài sản của người khác
không thuộc tài
sản kê biên thì Chấp hành viên yêu cầu người có tài sản di dời, tháo dỡ tài sản
ra khỏi tài sản kê biên trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được
thông báo.
32. Về các thời hạn
liên quan đến thủ tục thẩm định giá, xác định giá tài sản kê biên (Điều 82)
- Về thời hạn ký hợp đồng dịch vụ với
doanh nghiệp thẩm định giá: Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ
ngày thực hiện xong việc kê biên tài sản, Chấp hành viên ký hợp đồng dịch vụ với
doanh nghiệp thẩm định giá, trừ trường hợp nhận được văn bản thỏa thuận của
đương sự về giá tài sản.
- Về thời hạn đương sự được quyền
yêu cầu định giá lại: trong thời hạn 05
ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo về kết quả thẩm định giá,
xác định giá lần đầu.
- Thời hạn thực hiện
thủ tục thẩm định giá lại, xác định giá lại: trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày xác định có căn cứ
quy định tại khoản 2 Điều 82.
33. Về các thời hạn
trong thủ tục bán tài sản kê biên (Điều 83)
- Thời hạn để chủ sở hữu chung, tổ chức, cá nhân về quyền
ưu tiên mua tài sản thi hành án: 15 ngày đối với bất động
sản, 05 ngày làm việc đối với động sản kể từ ngày
được thông báo hợp lệ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày
hết thời hạn ưu tiên mà người được ưu tiên mua không nộp tiền mua thì tài sản
được bán theo quy định tại khoản 2 Điều 83.
Đối với
những lần bán tài sản tiếp theo thì có quyền ưu tiên mua trước thời điểm mở cuộc
đấu giá 03 ngày làm việc.
- Thời hạn Chấp hành viên ký hợp đồng
dịch vụ với tổ chức hành nghề đấu giá tài sản: Trong thời hạn 05 ngày làm
việc kể từ ngày hết thời hạn quy định tại điểm c khoản 2 Điều 82 của Luật
này mà đương sự không yêu cầu thẩm định giá lại. Trường hợp thẩm định giá lại, xác
định giá lại thì thời hạn là 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được Chứng thư thẩm định giá lại, có kết quả xác định giá lại.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc
kể từ ngày hết thời hạn trên mà không ký được hợp đồng dịch vụ với tổ chức
hành nghề đấu giá tài sản thì Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản trên địa
bàn thực hiện việc đấu giá tài sản.
- Thời hạn tổ
chức đấu giá đối với động sản được thực hiện trong thời hạn là 30 ngày,
đối với bất động sản là 45 ngày kể từ ngày ký hợp đồng dịch vụ đấu
giá tài sản;
- Về thời hạn Chấp hành viên bán tài
sản không qua thủ tục đấu giá đối với động sản có giá trị nhỏ hoặc tài sản là
hàng hóa, vật phẩm dễ bị hư hỏng: Trong thời hạn 05 ngày làm việc
kể từ ngày có kết quả xác định giá.
- Về thời hạn ra quyết định giảm giá: Trong thời hạn 05
ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo về việc tài sản đấu giá không thành.
- Về thời hạn để người phải thi hành án chuộc lại tài sản
thi hành án: Trước khi mở cuộc đấu giá 01 ngày làm việc, nộp đủ
tiền để thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh.
34. Về thời hạn để
đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu
Tòa án giải quyết về thiệt hại do vật phải trả bị giảm giá trị (Điều
88)
Hết thời hạn 15 ngày kể
từ ngày được thông báo mà đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết thì cơ quan
thi hành án dân sự xử lý theo quy định tại Điều 38 của Luật này.
35. Về thời hạn
liên quan đến thủ tục cưỡng chế giao quyền sử dụng đất (Điều 90)
Trường hợp có tài sản của người khác
gắn liền với quyền sử dụng đất được chuyển giao mà việc xử lý tài sản đó chưa
được xác định trong bản án, quyết định được thi hành thì thời hạn để người có
tài sản di dời, tháo dỡ tài sản ra khỏi diện tích đất phải chuyển giao cho người
được thi hành án: 15 ngày kể từ ngày được thông báo.
36. Về thời
hạn liên quan đến thủ tục cưỡng chế thi hành nghĩa vụ buộc thực hiện công việc nhất
định (Điều 91)
Trường hợp cưỡng
chế buộc thực hiện công việc nhất định hoặc buộc pháp nhân thương mại công khai
xin lỗi thì khi ra quyết định cưỡng chế, Chấp hành viên ấn định thời hạn 05
ngày làm việc kể từ ngày được thông báo hợp lệ để người phải thi hành
án thực hiện.
37. Về thời
hạn liên quan đến thủ tục cưỡng chế
giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng theo bản án, quyết định
(Điều 93)
Trường hợp cưỡng
chế thi hành nghĩa vụ giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng
thì khi ra quyết định cưỡng chế, Chấp hành viên ấn định thời hạn 05 ngày
làm việc kể từ ngày được thông báo hợp lệ để người phải thi hành án hoặc
người đang trông giữ người chưa thành niên thực hiện.
38. Về thời
hạn liên quan đến thủ tục cưỡng chế
buộc nhận người lao động trở lại làm việc (Điều 94)
Trường hợp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ buộc nhận người lao động trở lại làm
việc thì khi ra quyết định cưỡng chế, Chấp hành viên ấn định thời hạn 05
ngày làm việc kể từ ngày được thông báo hợp lệ để người sử dụng lao động
thực hiện.
39. Về thời
hạn liên quan đến thủ tục chấm dứt
áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế và giải tỏa kê biên tài sản (Điều
95)
- Về thời hạn ra quyết định chấm dứt
áp dụng biện pháp bảo đảm: trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ
ngày có một trong các căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 95.
- Về thời hạn ra quyết định giải tỏa
kê biên: 03 ngày làm việc kể từ ngày có một trong các căn cứ quy
định tại khoản 3 Điều 95.
- Về thời hạn
ra quyết định chấm dứt áp dụng biện pháp cưỡng chế khai thác tài sản: trong thời
hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày có một trong các căn cứ quy định
tại khoản 4 Điều 95.
40. Các thời hiệu
liên quan đến quyền khiếu nại về
thi hành án dân sự (Điều 96)
- Về thời hiệu khiếu nại lần đầu về
thi hành án dân sự thực hiện như sau:
a) Đối với
quyết định, hành vi về thi hành án trước khi có quyết định áp dụng biện pháp bảo
đảm, biện pháp cưỡng chế là 15 ngày kể từ ngày được thông báo hợp
lệ quyết định hoặc biết được hành vi đó;
b) Đối với
quyết định, hành vi về áp dụng biện pháp bảo đảm là 10 ngày kể từ
ngày được thông báo hợp lệ quyết định hoặc biết được hành vi đó;
c) Đối với
quyết định, hành vi về áp dụng biện pháp cưỡng chế và sau khi có quyết định áp
dụng biện pháp cưỡng chế là 30 ngày kể từ ngày được thông báo hợp
lệ quyết định hoặc biết được hành vi đó.
- Trường
hợp khiếu nại lần hai thì thời hiệu là 15 ngày kể từ ngày được
thông báo hợp lệ quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu.
41. Về Thời
hạn giải quyết khiếu nại (Điều 102)
1. Đối với
quyết định, hành vi quy định tại điểm a khoản 2 Điều 96
của Luật này thì thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu là 15
ngày, lần hai là 30 ngày kể từ ngày thụ lý đơn khiếu nại.
2. Đối với
quyết định, hành vi quy định tại điểm b khoản 2 Điều 96
của Luật này thì thời hạn giải quyết khiếu nại là 05 ngày làm
việc kể từ ngày thụ lý đơn khiếu nại.
3. Đối với
quyết định, hành vi quy định tại điểm c khoản 2 Điều 96
của Luật này thì thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu là 30
ngày, lần hai là 45 ngày kể từ ngày thụ lý đơn khiếu nại.
Đối với những
vụ việc có tính chất phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể kéo dài
nhưng không quá 30 ngày kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu
nại.
4. Trường hợp
ở vùng sâu, vùng xa, đường sá xa xôi, đi lại khó khăn, vụ việc có tính chất
phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể kéo dài nhưng không quá 30
ngày kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại.
42. Về
các thời hạn liên quan đến thụ lý đơn khiếu nại (Điều 104)
Về thời hạn thụ
lý để giải quyết và thông báo bằng văn bản cho người khiếu nại: Trong thời hạn 05
ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn khiếu nại lần đầu, 10 ngày
kể từ ngày nhận được đơn khiếu nại lần hai thuộc thẩm quyền giải quyết
và không thuộc trường hợp quy định tại Điều 97 của Luật
này.
43. Về thời
hạn giải quyết tố cáo (Điều 110)
Thời hạn giải
quyết tố cáo là 30 ngày kể từ ngày thụ lý tố cáo; đối với vụ việc
phức tạp thì thời hạn không quá 60 ngày kể từ ngày thụ lý tố cáo;
đối với vụ việc đặc biệt phức tạp thì thời hạn không quá 90 ngày kể
từ ngày thụ lý tố cáo.
44. Về thời hạn kháng
nghị, kiến nghị của Viện kiểm sát nhân dân (Điều 112)
- Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực,
Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh đối với quyết
định, hành vi trong việc thi hành án là 15 ngày; của Viện kiểm
sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát quân sự trung ương là 30 ngày
kể từ ngày nhận được quyết định hoặc phát hiện hành vi vi phạm.
- Thời hạn kháng nghị trong trường hợp việc thi hành án
đã kết thúc: thì thời hạn kháng nghị là 01 năm kể từ ngày Viện kiểm sát có thẩm quyền được thông báo
về kết thúc việc thi hành án.
45. Về thời hạn trả lời kháng nghị,
kiến nghị của Viện kiểm sát nhân dân (Điều 113)
- Về thời
hạn trả lời kháng nghị, kiến nghị của Viện kiểm sát nhân dân đối với quyết định,
hành vi về thi hành án của mình hoặc của công chức, Chấp hành viên, Thừa hành
viên thuộc quyền quản lý: trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận
được kháng nghị, kiến nghị.
- Về thời
hạn thực hiện kháng nghị, kiến nghị của Viện kiểm sát nhân dân nếu chấp nhận: trong
thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày có văn bản trả lời kháng nghị,
kiến nghị.
- Thời hạn
Viện kiểm sát nhân dân có văn bản trả lời nếu cơ quan THADS, Văn phòng THADS
không nhất trí kháng nghị: Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận
được văn bản đề nghị của cơ quan THADS, Văn phòng THADS.
- Thời hạn
Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp xem xét và trả lời
khi nhận được báo cáo của Thủ trưởng cơ quan THADS, Trưởng Văn phòng THADS về
việc Viện kiểm sát nhân dân giữ nguyên kháng nghị và Thủ trưởng cơ quan thi
hành án dân sự, Trưởng văn phòng thi hành án dân sự vẫn không nhất trí với
kháng nghị: trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được báo cáo.
Văn bản trả lời của Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư
pháp có hiệu lực thi hành.
- Trường hợp xét thấy văn bản trả lời kháng nghị quy định
tại khoản 2 Điều 113 không có căn cứ thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối
cao đề nghị Bộ trưởng Bộ Tư pháp xem xét lại văn bản trả lời đã có hiệu lực thi
hành của Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp; Bộ trưởng
Bộ Quốc phòng xem xét lại văn bản trả lời đã có hiệu lực thi hành của Thủ trưởng
cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng.
Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng có trách
nhiệm xem xét và trả lời bằng văn bản cho Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối
cao trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu.
Văn bản trả lời của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ
Quốc phòng có hiệu lực thi hành.
Nguyễn
Kiên Cường – Phòng 11