Biện pháp thay thế xử lý hình sự, điểm mới trong dự thảo Bộ luật hình sự sửa đổi.

      Xử lý chuyển hướng là một quá trình thay thế nhằm xử lý các vi phạm của người chưa thành niên, quá trình này nằm ngoài hệ thống tư pháp chính thống[1], xét về bản chất, biện pháp thay thế xử lý hình sự (XLHS) quy định từ Điều 90 đến Điều 93 Dự thảo Bộ luật hình sự chính là biện pháp xử lý chuyển hướng nhưng nhà làm luật đã không sử dụng thuật ngữ này nhằm tránh sự trùng lặp, tạo sự thống nhất trong hệ thống pháp luật vì cụm từ này đã được đề cập đến trong luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012. Tác giả bài viết đồng tình với những quy định mới này bởi những lý do sau:

 

Ảnh minh họa

      - Việc quy định biện pháp thay thế XLHS thể hiện sự thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng thực hiện chủ trương nhân đạo hóa, tăng tính hướng thiện trong chính sách xử lý hình sự theo tinh thần Nghị quyết 49 của Bộ Chính trị về cải cách tư pháp, nhất là đối với đối tượng cần bảo vệ đặc biệt là người chưa thành niên (NCTN) theo hướng hạn chế khả năng đưa NCTN vào vòng quay tố tụng. Việc bổ sung các quy định này nhằm khắc phục bất cập của quy định hiện hành, góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục tại cộng đồng đối với NCTN phạm tội.

      - Việc quy định biện pháp thay thế XLHS là sự cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013, đồng thời phù hợp với các đạo luật khác do Quốc hội ban hành. Cụ thể, khoản 2 Điều 58 Hiến pháp năm 2013 ghi nhận “nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc trẻ em…[2], Điều 36 Luật bảo vệ trẻ em năm 2004 quy định “Việc xử lý trẻ em có hành vi vi phạm pháp luật chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ[3] và khoản 1 Điều 69 Bộ luật hình sự (BLHS) “việc xử lý NCTN phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội”. Biện pháp thay thế XLHS tạo cơ hội cho NCTN phạm tội nhìn nhận lại xử sự của mình và chịu trách nhiệm với hành vi đó mà không để lại án tích – hậu quả pháp lý bất lợi cho các em, từ đó ngăn ngừa được sự kỳ thị, thúc đẩy các em tái hòa nhập vào gia đình, xã hội.

      - Việc quy định biện pháp thay thế XLHS chính là  nội luật hóa các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, trong đó có Công ước quốc tế về quyền trẻ em đã quy định “bất cứ khi nào xét thấy phù hợp và cần thiết thì phải khuyến khích thúc đẩy việc thiết lập các biện pháp xử lý NCTN vi phạm pháp luật mà không cần viện đến các thủ tục tư pháp với điều kiện phải đảm bảo quyền con người và sự nghiêm minh của pháp luật”. Như vậy, xu hướng chung trong chính sách xử lý đối với NCTN phạm tội của nhiều nước trên thế giới là ưu tiên áp dụng xử lý chuyển hướng, việc đưa người chưa thành niên vào hệ thống xử lý chính thức chỉ khi không còn cách nào khác để bảo đảm sự an toàn của cộng đồng.

      - Việc quy định biện pháp thay thế XLHS cũng là sự học tập, tiếp thu có chọn lọc  những kinh nghiệm của các nước trên thế giới phù hợp với điều kiện, tình hình tội phạm ở nước ta hiện nay. Các biện pháp đó có thể là nhắc nhở, giao cho cha mẹ hoặc người giám hộ giám sát, lao động phục vụ cộng đồng, hoà giải, bồi thường thiệt hại... Các biện pháp này được sử dụng để xử lý đối với NCTN thực hiện các vi phạm nhỏ và không nghiêm trọng. Trên thực tế tại một số nước, các biện pháp này rất hiệu quả trong việc thúc đẩy quá trình phát triển tích cực của NCTN và ngăn chặn tái phạm, huy động sự tham gia của cộng đồng, gia đình NCTN phạm tội vào công tác giáo dục, giúp đỡ NCTN phạm tội, làm giảm áp lực, chi phí cho hệ thống tư pháp chính thức vì nó bảo đảm rằng các biện pháp xử lý chính thức tốn kém chỉ được sử dụng trong trường hợp thật cần thiết.

      - Việc quy định biện pháp thay thế XLHS giúp khắc phục những bất cập trong thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự: Mặc dù khoản 2 Điều 69 BLHS hiện hành quy định việc miễn trách nhiệm hình sự đối với NCTN trong trường hợp phạm tội ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng mà gây thiệt hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và được gia đình, cơ quan, tổ chức nhận giám sát, giáo dục và quy định này tạo tiền đề, định hướng cho việc xử lý chuyển hướng, là cơ sở pháp lý quan trọng để các cơ quan tiến hành tố tụng xem xét đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án và giao NCTN phạm tội cho gia đình, tổ chức tại cộng đồng thực hiện việc giám sát, giáo dục mà không cần tiếp tục xử lý hình sự. Tuy nhiên, đây không phải là biện pháp xử lý chuyển hướng theo đúng nghĩa và chế định này cũng bộc lộ nhiều bất cập, ví dụ: thiếu cơ sở pháp lý rõ ràng, cụ thể về điều kiện, trình tự, thủ tục cũng như vai trò của cơ quan, tổ chức, cá nhân tại cộng đồng, các biện pháp hỗ trợ tái hoà nhập cộng đồng, hơn nữa, trên thực tế việc miễn trách nhiệm hình sự đồng nghĩa với việc trả tự do vô điều kiện mà không áp dụng bất kỳ các biện pháp giáo dục, phòng ngừa nào, điều này dẫn đến một thực tế là NCTN có thể tiếp tục tái phạm. Thực tiễn xét xử các vụ án hình sự mà NCTN là tội phạm, các chế tài được áp dụng tương đối nghiêm khắc, hình phạt áp dụng chủ yếu là hình phạt tù, nhưng tỉ lệ tái phạm vẫn cao. Xuất phát từ những ưu điểm đã nêu ở trên của biện pháp thay thế XLHS, việc nghiên cứu đưa nội dung này vào BLHS là cần thiết, mang lại hiệu quả to lớn trong công tác đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm nói chung và NCTN phạm tội nói riêng.

      Tuy nhiên, cần quy định biện pháp thay thế XLHS như thế nào? Tác giả bài viết xin nêu lên những kiến nghị hoàn thiện pháp luật, cụ thể như sau:

      - Cần quy định theo hướng mở rộng hơn nữa các biện pháp thay thế XLHS và điều kiện áp dụng các biện pháp này.

      - Điểm d khoản 3 Điều 91 của Dự thảo BLHS quy định “Trường hợp người chưa thành niên nghiện rượu, nghiện ma túy thì phải cai nghiện[4]. Về vấn đề xác định người nghiện ma túy, khi dẫn chiếu đến luật phòng chống ma túy còn quy định khá chung chung “Người nghiện ma tuý là người sử dụng chất ma tuý, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần và bị lệ thuộc vào các chất này[5], như thế nào được coi là lệ thuộc vào các chất ma túy thì cần phải được giải thích rõ ràng để tạo sự thống nhất trong quá trình triển khai thực hiện pháp luật. Trường hợp  xác định một người nghiện rượu tính khả thi trên thực tế chưa cao vì chưa có một văn bản chính thức nào giải thích.

      - Việc quy định điều kiện áp dụng biện pháp thay thế XLHS trong Dự thảo BLHS cũng chưa chặt chẽ, trường hợp NCTN phạm tội đã bị xử lý mà tiếp tục phạm tội thì có được áp dụng các biện pháp này không? Nếu theo các quy định trong Dự thảo thì vẫn có thể áp dụng được, điều đó cho thấy tính răn đe pháp luật  chưa cao, dễ dẫn đến tình trạng coi thường pháp luật và nguy cơ các quan hệ xã hội bị xâm hại là rất lớn.

      - Theo quy định của Dự BLHS, thực tiễn áp dụng sẽ gặp phải khó khăn, vướng mắc trong trường hợp NCTN phạm nhiều tội và xét từng tội đều thỏa mãn điều kiện để áp dụng biện pháp thay thế XLHS hoặc trường hợp một tội đủ điều kiện áp dụng biện pháp thay thế XLHS còn tội khác áp dụng hình phạt tù… Thì những trường hợp đó xử lý đối với NCTN phạm tội như thế nào? Nguyên tắc tổng hợp ra sao?

      Vì vậy, cần phải tiếp tục nghiên cứu kỹ lưỡng những hạn chế, bất cập nêu trên, để việc quy định các biện pháp thay thế XLHS và áp dụng vào các trường hợp thực tiễn được thống nhất, chính xác đảm bảo được hiệu quả phòng chống tội phạm, cũng như tính nghiêm minh, công bằng của pháp luật./.

                                                 Nguyễn Đình Vinh - Chuyên viên VKSND quận Lê Chân

 

[1] PGS.TS. Cao Thị Oanh, trường đại học luật Hà Nội.

[2] Hiến pháp năm 2013, NXB Chính trị Quốc Gia, Hà Nội – 2014, Tr.29.

[3] Luật bảo vệ trẻ em năm 2004.

[4] Dự thảo Bộ luật hình sự sửa đổi, bản lấy ý kiến của nhân dân.

[5] Luật phòng chống ma túy năm 2000, khoản 11 Điều 2.

Ứng dụng hỗ trợ nghiệp vụ

Tin tức
Thông tin cần biết
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1

Trang thông tin điện tử: VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG - Cơ quan chủ quản: VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO
Địa chỉ: Lô 18A, Lê Hồng Phong, P. Hải An, TP Hải Phòng - Điện thoại: 02253.838308 - Fax: 02253.839072 - Email: vp_haiphong@vks.gov.vn
Trưởng ban biên tập: Phó Viện trưởng Nguyễn Mạnh Vỹ
Số giấy phép: 03/GP-STTTT do Sở Thông tin và Truyền thông TP Hải Phòng cấp ngày 17 tháng 10 năm 2017 (Giấy phép có giá trị 10 năm)
Bản quyền thuộc về VKSND TP Hải Phòng - Thiết kế bởi VNPT | Quản trị

Chung nhan Tin Nhiem Mang