Có được áp dụng tình tiết phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng hay không?
Thông
qua công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử vụ án hình sự, xin được
nêu một tình huống còn vướng mắc, rất mong các bạn đọc cùng trao đổi:
Khoảng 11 giờ ngày 20/6/2019, Trần Văn T đã
lợi dụng lúc vắng người, lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt chiếc điện thoại
di động Samsung Galaxy J8 trị giá 3.100.000 đồng của anh Đỗ Văn Tuấn, tại thôn
An Luận, xã An Tiến, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng. Sau khi thực hiện hành
vi trộm cắp đó, trong các ngày 05 và 07/7/2019, Trần Văn T còn thực hiện hai
lần trộm cắp tài sản tổng giá trị là 5,8 triệu tại Cụm 2, xã Phụng Thượng,
huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội và đã bị TAND Phúc Thọ xử ngày 19/09/2019 với
mức án 12 tháng tù (hành vi sau xét xử trước).
Ngày 15/10/2019 TAND huyện An Lão mới xét xử hành
vi phạm tội ngày 20/06/2019 (hành vi trước xét xử sau). Vấn đề đặt ra là: Bị
cáo Trần Văn
T có được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Phạm
tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng theo Điểm i Khoản 1 Điều 51
BLHS năm 2015” hay không ?
Theo
tinh thần Công văn số 01/2017/GĐ - TANDTC ngày 7/4/2017 về giải đáp một số vấn
đề nghiệp vụ và Nghị quyết số 01/2018/NQ - HĐTP ngày 24 /4/2018 của Hội
đồng Thẩm phán TANDTC về hướng dẫn áp dụng Điều 66 và Điều 106 của BLHS về
tha tù trước thời hạn có điều kiện. Cả 2 văn bản hướng dẫn của TANDTC đều có đề
cập đến khái niệm phạm tội lần đầu.
Tại
Điểm 4 phần I Công văn số 01/2017/GĐ - TANDTC quy định: “Phạm tội lần đầu
là từ trước đến nay chưa phạm tội lần nào. Nếu trước đó đã phạm tội và bị kết
án, nhưng đã được xóa án tích hoặc chưa bị kết án, nhưng đã hết thời hiệu truy
cứu trách nhiệm hình sự hoặc chưa bị kết án, chưa hết thời hiệu truy cứu trách
nhiệm hình sự nay bị truy cứu trách nhiệm hình sự trong cùng lần phạm tội sau,
thì không được coi là phạm tội lần đầu.
Phạm
tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là phạm tội thuộc một trong các trường hợp
sau đây: Phạm tội gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung
hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù; Phạm tội nghiêm trọng, rất nghiêm
trọng hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng nhưng người phạm tội có vị trí, vai
trò thứ yếu, không đáng kể trong vụ án có đồng phạm.
Tòa
án chỉ áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “phạm tội lần đầu và
thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” quy định tại Điểm h Khoản 1 Điều 46 Bộ luật
hình sự năm 1999 khi có đủ 02 yếu tố “phạm tội lần đầu” và “thuộc trường hợp ít
nghiêm trọng”. Nếu bị cáo phạm tội lần đầu mà không phải thuộc trường hợp ít
nghiêm trọng hoặc ngược lại phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nhưng lần
phạm tội này không phải là phạm tội lần đầu thì không áp dụng Điểm h Khoản 1
Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 (Điểm i Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm
2015) để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.”
Còn
theo Khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 01/2018/NQ-HĐTP thì: “… Được
coi là phạm tội lần đầu và có thể xem xét nếu thuộc một trong các trường hợp
sau đây: a) Trước đó chưa phạm tội lần nào; b) Trước đó đã thực hiện hành vi
phạm tội nhưng được miễn trách nhiệm hình sự; c) Trước đó đã thực hiện hành vi
phạm tội nhưng được áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng;
d) Trước đó đã bị kết án nhưng thuộc trường hợp được coi là không có án tích.”
Trở
lại vụ án Trần Văn T, hiện có ba quan điểm:
Quan điểm thứ nhất: Hành vi
phạm tội của T không thuộc trường hợp phạm tội lần đầu. Vì trước đó
(tức ngày 119/9/2019), T đã bị Tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ xử phạt 12 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Tức là T
không thuộc trường hợp quy định tại Điểm d Khoản 2 Điều 2 của Nghị quyết số
01/2018/NQ-HĐTP (Trước đó đã bị kết án nhưng không thuộc trường hợp được coi là không có án tích). Do đó không được hưởng tình
tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “phạm tội lần đầu” và “thuộc trường hợp ít
nghiêm trọng” theo Điểm i Khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015.
Quan điểm thứ hai: Hành vi phạm tội của
T thuộc trường hợp phạm tội lần đầu. Bởi vì cụm từ “Trước đó”
trong Công văn số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/4/2017 của TANDTC hay
Nghị quyết số 01/2018/NQ-HĐTP ngày 24 /4/ 2018 của Hội
đồng Thẩm phán TANDTC, là tính từ thời điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội
mà không phải là thời điểm Tòa án xét xử bị cáo. Cho nên tính từ thời điểm thực
hiện hành vi phạm tội (ngày 20.6.2019) thì T không thực hiện hành vi phạm tội
nào khác, nghĩa là “… từ trước đến nay chưa phạm tội lần
nào” như hướng dẫn tại Công văn số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/4/2017
của Tòa án nhân dân tối cao hay Nghị quyết số: 01/2018/NQ-HĐTP ngày 24 /4/ 2018
của Hội đồng Thẩm phán TANDTC. Hành vi phạm tội của T trộm cắp tài
sản trị giá 3.100.000 đồng, gây nguy
hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là
đến ba năm tù. Do đó được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “phạm tội lần
đầu” và “thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” theo Điểm i Khoản 1 Điều
51 BLHS năm 2015.
Quan điểm thứ ba: Mặc dù hành vi
phạm tội của Trần Văn T có đủ 02 yếu tố “phạm tội lần đầu” và “thuộc trường
hợp ít nghiêm trọng”. nhưng T không được
hưởng tình tiết “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng theo Điểm
i Khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015”. Vì tại Điểm 4 Phần I Công văn số 01/2017/GĐ -
TANDTC đã nêu:“Phạm tội lần đầu là từ trước đến nay chưa phạm tội lần nào.
Nếu trước đó đã phạm tội và bị kết án, nhưng đã được xóa án tích hoặc chưa bị
kết án, nhưng đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chưa bị kết
án, chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự nay bị truy cứu trách nhiệm
hình sự trong cùng lần phạm tội sau, thì không được coi là phạm tội lần đầu.”
Như vậy
hành vi phạm tội của T thuộc trường hợp “chưa bị kết án, chưa hết thời hiệu
truy cứu trách nhiệm hình sự nay bị truy cứu trách nhiệm hình sự trong cùng lần
phạm tội sau, thì không được coi là phạm
tội lần đầu.
Rất mong
cùng trao đổi với các bạn đồng nghiệp./.
Phạm Quang Dũng, VKSND huyện An Lão