Cùng trao đổi về bài viết “Một số vướng mắc trong việc áp dụng khoản 3 Điều 53 BLTTHS 2003”
Đọc bài viết “Một số vướng mắc trong việc áp dụng khoản 3 Điều 53 BLTTHS 2003” của đồng chí Phạm Duy Trường –Viện kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, tôi xin đưa ra ý kiến trao đổi thêm về vấn đề này như sau.
Ảnh minh họa
Tác giả đưa ra ví dụ về trường hợp vụ án Cố ý gây thương tích được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại (bị hại bị gây thương tích làm giảm 5% sức lao động). Sau khi khởi tố vụ án, các cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đầy đủ các yêu cầu nghiệp vụ để triệu tập, thông báo cho người bị hại biết và tham gia các giai đoạn tố tụng nhưng không có kết quả. Vụ án vẫn được kết thúc điều tra, truy tố và đưa ra xét xử theo thủ tục thông thường. Vì bị hại vắng mặt nên Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa. Tại phiên tòa mở lần thứ hai, tác giả đưa ra ba quan điểm giải quyết đối với vụ án này: tạm đình chỉ, tiếp tục xét xử như thông thường và đình chỉ giải quyết vụ án.
Theo tác giả, đây là vụ án khởi tố theo yêu cầu của người bị hại nên theo quy định tại Khoản 3 Điều 51 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 (BLTTHS 2003), người bị hại bắt buộc phải có mặt tại phiên tòa để trình bày lời buộc tội. Việc vắng mặt người bị hại sẽ làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người bị hại cũng như quyền lợi của bị cáo trong vấn đề trách nhiệm hình sự, dân sự. Vì vậy trong trường hợp này Hội đồng xét xử phải ra quyết định tạm đình chỉ xét xử vụ án, khi nào người bị hại có mặt tham gia tố tụng vụ án sẽ được tiếp tục xét xử. Tuy nhiên, theo tôi, cách làm này cũng như phương án đình chỉ giải quyết vụ án lại thiếu thuyết phục về căn cứ pháp luật. Vì trong các căn cứ để tạm đình chỉ, đình chỉ vụ án được quy định tại Điều 180 BLTTHS 2003 không có trường hợp người bị hại vắng mặt hoặc không xác định được người bị hại đang ở đâu. (Điều 281 BLTTHS 2015 chỉ bổ sung thêm căn cứ tạm đình chỉ vụ án là“Chờ kết quả xử lý văn bản pháp luật của Tòa án kiến nghị” nên cũng không có trường hợp này).
Ngoài ra, trên thực tiễn, tương tự ví dụ này, nếu như sau khi khởi tố vụ án người bị hại chết, không có người đại diện hợp pháp thì họ cũng không thể có lời khai tại các giai đoạn tố tụng và không thể trình bày lời buộc tội tại phiên tòa. Nếu cũng vì lý do không có mặt người bị hại, Hội đồng xét xử quyết định đình chỉ vụ án là hoàn toàn sai căn cứ còn tạm đình chỉ vụ án thì vừa thiếu cơ sở, vừa dẫn tới tình trạng vụ án bị “treo” không có thời hạn giải quyết. Đồng thời hệ quả của tình trạng này chính là người phạm tội không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi nguy hiểm họ đã thực hiện dù đã có đầy đủ chứng cứ để chứng minh. Ngoài ra, chính người phạm tội cũng sẽ thiệt thòi nếu về nhân thân của họ không được xác định rõ ràng, gây ảnh hưởng tới nhiều quyền và lợi ích hợp pháp khác (ví dụ như việc người phạm tội thừa nhận hành vi sai trái, ăn năn hối cải, mong muốn sớm chấp hành hình phạt để được xóa án tích…).
Theo quan điểm của tôi, trường hợp này, Tòa án vẫn có thể xét xử bình thường (như phương án thứ 2 tác giả đã đưa ra). Bởi khoản 3 Điều 51 BLTTHS 2003 (tương tự Khoản 3 Điều 62 BLTTHS năm 2015) quy định:
“Trong trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại quy định tại Điều 105 của Bộ luật này thì người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ trình bày lời buộc tội tại phiên toà”.
Quy định trên nên được hiểu là “Người bị hại hoặc đại diện hợp pháp của họ có quyền trình bày lời buộc tội tại phiên tòa”. Đây là quyền năng rất lớn của người bị hại nhưng không phải là nghĩa vụ của họ. Theo đó, trừ trường hợp người bị hại tự nguyện rút yêu cầu khởi kiện trước ngày mở phiên tòa, nếu họ (hoặc đại diện hợp pháp) không thể trình bày lời buộc tội đối với bị cáo tại phiên tòa thì cũng không có nghĩa là họ từ bỏ yêu cầu của mình hoặc bị cáo không có tội. Bởi lẽ, về mặt hình sự, trách nhiệm chứng minh bị cáo có tội thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng. Trong ví dụ này, vụ án đã được khởi tố, điều tra, truy tố và đưa ra xét xử đúng quy định, do đó, ngoài lời khai của bị hại, phải còn nhiều chứng cứ khác để buộc tội bị cáo (như vật chứng thu giữ, lời khai người làm chứng (nếu có), kết luận giám định thương tích, lời khai của bị cáo…). Trước khi khởi tố vụ án, người bị hại đã có lời khai về diễn biến vụ án và có đơn đề nghị khởi tố vụ án hình sự. Đây là những tài liệu chứng cứ được thu thập một cách khách quan, hợp pháp nên cần được ghi nhận. Việc không thu thập được lời khai của bị hại trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử là do nguyên nhân khách quan, không phải là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng để có thể dẫn tới ảnh hưởng quá lớn tới giá trị chứng minh của các chứng cứ khác cũng như kết quả điều tra, giải quyết vụ án.
Hơn nữa, Điều 191 BLTTHS 2003 cũng quy định:
“1. Nếu người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc người đại diện hợp pháp của họ vắng mặt thì tùy trường hợp, Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa hoặc vẫn tiến hành xét xử.
2. Nếu thấy sự vắng mặt của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự chỉ trở ngại cho việc giải quyết vấn đề bồi thường thì Hội đồng xét xử có thể tách việc bồi thường để xét xử sau theo thủ tục tố tụng dân sự.”
Theo đó, nếu người bị hại vắng mặt thì Hội đồng xét xử hoàn toàn có thể tiến hành xét xử. Trong ví dụ này, tại phiên tòa lần hai nếu người bị hại vẫn vắng mặt thì Hội đồng xét xử có thể căn cứ Điều 208 BLTTHS 2003 công bố Đơn đề nghị khởi tố vụ án, lời khai ban đầu của họ và coi đây là lời buộc tội đối với bị cáo mà bị hại trình bày tại phiên tòa. Nếu những tài liệu này phù hợp với các chứng cứ khác thu thập được trong hồ sơ vụ án, phù hợp với kết quả đấu tranh công khai tại phiên tòa thì hoàn toàn có thể sử dụng làm căn cứ kết tội bị cáo.
Về vấn đề bồi thường dân sự, Hội đồng xét xử có thể tách ra (theo quy định tại Điều 28, Điều 191 BLTTHS 2003), khi nào người bị hại có yêu cầu sẽ xem xét giải quyết sau theo thủ tục vụ án dân sự.
Trên đây là quan điểm cá nhân của người viết, xin được trao đổi cùng tác giả Phạm Duy Trường và các đồng nghiệp để có thêm các góc nhìn đa chiều hơn về vấn đề này. Rất mong nhận được các ý kiến phản biện cũng như trao đổi của các đồng chí để tôi có thể hoàn thiện hơn nữa kiến thức và chất lượng công tác.
Đồng Thị Lan Anh – Viện kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền