Cùng trao đổi về sự tiến bộ của Bộ luật Dân sự 2015 trong việc kết hợp lý thuyết trái quyền và vật quyền khi điều chỉnh quan hệ bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.
21/06/2016
Bộ luật dân sự 2015 đã có nhiều đổi mới tích cực để điều chỉnh các quan hệ dân sự, đặc biệt là quy định về tài sản. Trong đó, quy định điều chỉnh quan hệ bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đã thể hiện được sự tiến bộ đáng kể, khắc phục được nhiều bất cập, khó khăn trong quá trình áp dụng trên thực tiễn. Qua tìm hiểu ban đầu, người viết đặc biệt quan tâm đến việc kết hợp hài hòa lý thuyết vật quền và trái quyền thành những quy định cụ thể, có tính ứng dụng và thực tiễn cao trong đạo luật này, xin được đưa ra, cùng trao đổi với các đồng nghiệp.
Vật quyền thực chất là quyền trên vật. Một người có tài sản thì có quyền trên vật hay còn gọi là quyền sở hữu. Quyền trên tài sản của mình gọi là quyền sở hữu còn quyền trên tài sản của người khác thì gọi là các loại vật quyền khác. Vật quyền cho phép một người được thực hiện quyền chi phối trên vật của mình. Đối ngược với vật quyền là trái quyền. Trái quyền là quyền của một người được yêu cầu người khác phải thực hiện hoặc không thực hiện một hành vi nhất định và chỉ qua hành vi của người được yêu cầu thì quyền và lợi ích của người có quyền mới được đáp ứng.
Bộ luật Dân sự năm 2005 tiếp cận biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dựa trên nền tảng của lý thuyết trái quyền. Thực tiễn cho thấy, cách tiếp cận quan hệ bảo đảm thuần túy theo lý thuyết trái quyền chưa thể giải quyết được triệt để những vướng mắc phát sinh trong quá trình xử lý tài sản bảo đảm.
Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005, giao dịch bảo đảm là giao dịch dân sự do các bên thoả thuận hoặc pháp luật quy định về việc thực hiện biện pháp bảo đảm (khoản 1 Điều 318), cũng chính là căn cứ để bên nhận bảo đảm thực thi quyền xử lý tài sản bảo đảm (Điều 336, Điều 355, Điều 721). Về bản chất, đây chính là yếu tố trái quyền của quan hệ bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. Cách tiếp cận này lý giải cơ sở để bên nhận bảo đảm có quyền và thực thi quyền xử lý đối với tài sản bảo đảm thông qua hợp đồng bảo đảm. Bởi lẽ, tài sản bảo đảm vốn dĩ không thuộc quyền sở hữu của bên nhận bảo đảm, nên việc thực thi quyền xử lý tài sản bảo đảm phải dựa trên thỏa thuận của các bên trong hợp đồng bảo đảm đã ký kết.
Tuy nhiên, điểm yếu của cách tiếp cận thuần túy trái quyền này là ở chỗ, quyền xử lý tài sản bảo đảm của bên nhận bảo đảm đối với tài sản bảo đảm chỉ được thực hiện thông qua hành vi thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm theo hợp đồng bảo đảm đã ký kết. Hay nói cách, quyền xử lý tài sản bảo đảm của bên nhận bảo đảm được thực hiện phụ thuộc vào ý chí của bên bảo đảm (chủ sở hữu tài sản). Bên nhận bảo đảm không có quyền trực tiếp, mang tính chất quyết định và ngay tức khắc đối với tài sản bảo đảm. Trường hợp bên bảo đảm không thực hiện nghĩa vụ đã cam kết thì bên nhận bảo đảm chỉ có thể khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết (Điều 721).
Cách tiếp cận này đã làm cho thủ tục xử lý tài sản bảo đảm phụ thuộc quá nhiều vào ý chí của bên bảo đảm (chủ sở hữu tài sản). Trong khi đó, xử lý tài sản bảo đảm dẫn đến sự dịch chuyển quyền sở hữu tài sản từ bên bảo đảm sang người mua hoặc bên nhận bảo đảm (trường hợp bên nhận bảo đảm nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm). Do vậy, bên bảo đảm thường có thái độ thiếu thiện chí, thậm chí là bất hợp tác, chây ỳ trong việc chuyển giao tài sản bảo đảm cho bên nhận bảo đảm để xử lý. Thực tế này đã làm cho bên nhận bảo đảm trở nên bị động, yếu thế đối với tài sản bảo đảm, trong khi đúng ra, theo quy định của pháp luật và hợp đồng bảo đảm đã giao kết, họ có toàn quyền xử lý để thu hồi nợ khi bên có nghĩa vụ vi phạm nghĩa vụ đã thỏa thuận.
Để khắc phục những hạn chế này, Bộ luật Dân sự năm 2015 bước đầu đã ghi nhận và thể hiện được một số nội dung của vật quyền bảo đảm để tăng cường tính chủ động của bên nhận bảo đảm trong việc xử lý tài sản bảo đảm. Cụ thể là, lần đầu tiên, Bộ luật Dân sự năm 2015 đã quy định rõ hai đặc điểm quan trọng của vật quyền bảo đảm, là quyền truy đòi tài sản bảo đảm và quyền ưu tiên thanh toán của bên nhận bảo đảm đối với tài sản bảo đảm trong trường hợp biện pháp bảo đảm đã phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba.
Khoản 2 Điều 297 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:
“Khi biện pháp bảo đảm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba thì bên nhận bảo đảm được quyền truy đòi tài sản bảo đảm và được quyền thanh toán theo quy định tại Điều 308 của Bộ luật này và luật khác có liên quan”.
Việc bổ sung quy định về quyền truy đòi tài sản bảo đảm và quyền được ưu tiên thanh toán của bên nhận bảo đảm thể hiện sự kết hợp hài hòa, linh hoạt yếu tố vật quyền trong quan hệ trái quyền khi điều chỉnh quan hệ bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của Bộ luật Dân sự năm 2015. Sự kết hợp đó hoàn toàn phù hợp với bản chất chứa đựng cả yếu tố trái quyền và yếu tố vật quyền của biện pháp bảo đảm. Quy định tiến bộ đó đồng thời góp phần tháo gỡ được những khó khăn, bất cập mà thực tiễn xử lý tài sản bảo đảm đang đặt ra. Tuy chỉ quy định bổ sung 2 quyền là quyền truy đòi tài sản bảo đảm và quyền ưu tiên thanh toán nhưng nó đã mở ra sự chủ động và thực quyền giải quyết cho bên nhận bảo đảm đối với tài sản bảo đảm trong trường hợp biện pháp bảo đảm đã phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba. Quy định như vậy thể hiện được sự tôn trọng cao nhất thỏa thuận và ý chí các bên trong quan hệ dân sự, là nguyên tắc cơ bản xuyên suốt Bộ luật dân sự 2015, đảm bảo sự thống nhất và phù hợp giữa các điều luật trong Bộ luật này.
Trên đây là quan điểm cá nhân của người viết, xin được đưa ra để các đồng nghiệp cùng trao đổi, truyền đạt kinh nghiệm nhằm nâng cao hơn nữa kiến thức và chất lượng công tác.
Đồng Thị Lan Anh – Viện kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền.