Cùng trao đổi về trường hợp Tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố theo Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (BLTTHS 2015) ra đời đã khắc phục được nhiều bất cập, hạn chế trong công tác tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác tội phạm, kiến nghị khởi tố, tạo cơ sở pháp lý cho việc tiến hành hoạt động này một cách thống nhất, khách quan, bảo đảm đúng căn cứ pháp luật. Chỉ còn một thời gian rất ngắn nữa, BLTTHS 2015 sẽ chính thức có hiệu lực thi hành với nhiều kỳ vọng vào một nền tố tụng được đổi mới, chặt chẽ, văn minh, tiến bộ hơn. Trong khuôn khổ của bài viết này, tôi xin được mạnh dạn trao đổi cùng các đồng nghiệp về trường hợp Tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố theo quy định tại BLTTHS 2015 (gọi vắn tắt là tố giác, tin báo về tội phạm).

Điều 147 BLTTHS 2015 quy định về thời hạn, thủ tục giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố:

1. Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải kiểm tra, xác minh và ra một trong các quyết định:

a) Quyết định khởi tố vụ án hình sự;

b) Quyết định không khởi tố vụ án hình sự;

c) Quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố.

2. Trường hợp vụ việc bị tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm thì thời hạn giải quyết tố giác, tin báo, kiến nghị khởi tố có thể kéo dài nhưng không quá 02 tháng. Trường hợp chưa thể kết thúc việc kiểm tra, xác minh trong thời hạn quy định tại khoản này thì Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền có thể gia hạn một lần nhưng không quá 02 tháng.

Chậm nhất là 05 ngày trước khi hết thời hạn kiểm tra, xác minh quy định tại khoản này, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải có văn bản đề nghị Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền gia hạn thời hạn kiểm tra, xác minh.

          Theo quy định này, khi hết thời hạn, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải ra một trong các quyết định mang tính chất “đóng” (khởi tố vụ án hoặc không khởi tố vụ án) hoặc “tạm đóng” quá trình giải quyết tin báo, tố giác tội phạm (tạm đình chỉ). Trong đó, tạm đình chỉ việc giải quyết tin báo, tố giác tội phạm là quy định hoàn toàn mới, lần đầu tiên được thể chế hóa vào BLTTHS. Đây là một hướng giải quyết mới, hoàn toàn phù hợp với thực tiễn, mở ra cơ sở pháp lý cho việc tạm ngừng hoạt động xác minh, giải quyết tin báo, tố giác tội phạm khi đủ những điều kiện luật định. Điều đó đã chấm dứt câu chuyện thực tiễn đang còn thiếu thống nhất trong thực hiện khi phải giải quyết tin báo, tố giác tội phạm theo những quy định “ngoài vòng tố tụng” (tạm dừng xác minh) nếu thuộc trường hợp không đủ cơ sở để khởi tố hoặc không khởi tố vụ án như hiện nay.

          Tuy nhiên, Điều 148 BLTTHS 2015 cũng quy định rất cụ thể về căn cứ tạm đình chỉ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố như sau:

“1. Hết thời hạn quy định tại Điều 147 của Bộ luật này, cơ quan có thẩm quyền giải quyết quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố khi thuộc một trong các trường hợp:

a) Đã trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản, yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp nhưng chưa có kết quả;

b) Đã yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật quan trọng có ý nghĩa quyết định đối với việc khởi tố hoặc không khởi tố vụ án nhưng chưa có kết quả…

3. Trường hợp tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố thì việc giám định, định giá tài sản hoặc tương trợ tư pháp vẫn tiếp tục được tiến hành cho đến khi có kết quả.”

          Theo đó, chỉ được tạm đình chỉ việc giải quyết tin báo, tố giác tội phạm khi có một trong các căn cứ là: đã trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản, yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp nhưng chưa có kết quả hoặc đã yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật quan trọng có ý nghĩa quyết định đối với việc khởi tố hoặc không khởi tố vụ án nhưng chưa có kết quả. Đây là những nguyên nhân khách quan thường gặp nhất có thể làm kéo dài thời gian giải quyết tin báo, tố giác tội phạm. Tuy nhiên, cá nhân tôi thấy, trên thực tiễn, vẫn còn có trường hợp khác thường làm kéo dài thời gian giải quyết tin báo tố giác tội phạm là: người bị tố giác cố tình trốn tránh hoặc đã rời khỏi nơi cư trú, nơi làm việc… mà không thể triệu tập để lấy lời khai làm căn cứ giải quyết tiếp theo.

Ví dụ: A tố cáo B có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản bằng cách hứa hẹn nhờ người quen xin việc làm cho A vào đơn vị X và nhận 100 triệu của A để xin việc làm nhưng không thực hiện rồi bỏ trốn (A nộp kèm 01 giấy viết tay nội dung ghi tên B, xác nhận việc B nhận của A 100 triệu). Một số bạn bè chung của 2 người xác nhận B nêu thông tin có thể xin việc làm vào đơn vị X nhưng không nắm được thỏa thuận của 2 người cụ thể thế nào, có việc giao tiền hay chưa. Qua xác minh, B mồ côi cha mẹ từ nhỏ, sống 1 mình, không còn người thân thích, buôn bán tự do. Kiểm tra tàng thư căn cước cũng không còn giấy tờ nào có đủ lượng chữ để làm mẫu so sánh giám định chữ viết, trên giấy nhận nợ cũng không còn dấu vết đường vân nào của B. Không ai nắm được B đi đâu, làm gì. Xác minh tại đơn vị X, xác định được vào thời gian đó đơn vị này cũng có thông báo tuyển dụng như thông tin B cung cấp, tuy nhiên không có hồ sơ của A nộp ở đó.

          Trong trường hợp này, ngoài lời khai của người tố cáo, của một số người biết việc và 01 giấy biên nhận do A giao nộp không còn tài liệu nào khác để xác định được: B có nhận tiền của A để xin việc làm cho A không? Giấy biên nhận đó có phải do B viết không? B có khả năng xin được việc không, thông qua mối quan hệ nào? B có mục đích chiếm đoạt tiền của A không? Nếu có thì từ trước hay sau thời điểm nhận tiền? Lý do B vắng mặt tại địa phương?... Do đó, việc triệu tập để ghi lời khai, đấu tranh với B có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với hoạt động giải quyết tố giác này. Tuy nhiên, vì không ghi được lời khai của B nên không có căn cứ để đánh giá hệ thống tài liệu chứng cứ thu thập được và chưa thể kết luận có đủ cơ sở để khởi tố vụ án hay không khởi tố vụ án. Đối với việc giải quyết tố giác nêu trên, hiện nay còn nhiều quan điểm khác nhau.

Quan điểm thứ nhất cho rằng, trong trường hợp này, Cơ quan điều tra đã làm hết trách nhiệm (đã gửi giấy triệu tập nhiều lần, vào nhiều thời điểm khác nhau, đã lập biên bản xác minh có xác nhận hàng xóm láng giềng, bạn bè và của chính quyền địa phương về việc B vắng mặt tại địa phương…) nhưng vẫn chưa gặp và ghi được lời khai của B. Nên vẫn có thể coi việc Cơ quan điều tra đã thực hiện các hoạt động trên (dù không triệu tập được B để ghi lời khai) căn cứ “đã yêu cầu cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật quan trọng có ý nghĩa quyết định đối với việc khởi tố hoặc không khởi tố vụ án nhưng chưa có kết quả” để ra quyết tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác này theo quy định tại Điều 148 khoản 1 điểm b BLTTHS 2015.

Quan điểm thứ hai cho rằng, vì B vắng mặt tại địa phương, Cơ quan điều tra chưa thể gửi được thông báo triệu tập cho B đến làm việc nên cũng không thể coi là B đã được “yêu cầu cung cấp tài liệu, đồ vật quan trọng có ý nghĩa quyết định đối với việc khởi tố hoặc không khởi tố vụ án nhưng chưa có kết quả”. Cũng không thể vận dụng căn cứ này để yêu cầu A cung cấp thêm tài liệu, đồ vật để chứng minh cho tố giác của mình là có cơ sở vì theo tinh thần của nguyên tắc “xác định sự thật của vụ án” (Điều 15 BLTTHS 2015), trách nhiệm chứng minh chỉ thuộc về Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tố giác là A có quyền nhưng không có trách nhiệm phải thực hiện yêu cầu đó. Như vậy, trong trường hợp này, Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để ra bất kỳ quyết định nào để giải quyết tố giác khi hết thời hạn theo quy định tại Điều 147 BLTTHS. Hiện nay, trong trường hợp này, thông thường CQĐT sẽ có công văn thống nhất với VKS để tạm dừng xác minh cho đến khi có được tài liệu, chứng cứ mới. Nhưng theo BLTTHS 2015, cách làm này không được quy định, nếu thực hiện, sẽ dẫn tới tình trạng vi phạm tố tụng. Đây chính là khó khăn, vướng mắc trong quá trình giải quyết tin báo, tố giác tội phạm trong trường hợp tương tự khi xử lý theo quy định của BLTTHS 2015.

          Theo quan điểm của cá nhân tôi, trong trường hợp nêu trên, khi hết thời hạn, CQĐT cần ra Quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Bởi lẽ, tài liệu đến thời điểm này chưa đủ để chứng minh đã xảy ra vụ án hình sự, theo tinh thần của nguyên tắc suy đoán vô tội” (Điều 13 BLTTHS 2015), cần áp dụng đường lối xử lý nêu trên. Tuy nhiên, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân luôn được pháp luật bảo vệ, tránh bỏ lọt tội phạm, sau khi đã có Quyết định không khởi tố vụ án hình sự, mà phát sinh những tình tiết mới (ví dụ B đến đầu thú và thừa nhận hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, phù hợp với những tài liệu khác có trong hồ sơ) giúp bổ sung đầy đủ căn cứ để khởi tố vụ án hình sự, VKS có thể hủy Quyết định không khởi tố vụ án hình sự này và Khởi tố vụ án hình sự theo quy định tại Điều 161, Điều 153 BLTTHS 2015 (nếu còn thời hiệu).

          Để hoàn thiện các quy định của pháp luật đồng thời đảm bảo tính có căn cứ, tính ổn định của các kết quả giải quyết tin báo, tố giác tội phạm và kiến nghị khởi tố, cá nhân tôi nghĩ rằng nên bổ sung thêm căn cứ tạm đình chỉ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố tại Điều 148 BLTTHS 2015 như sau:

“1. Hết thời hạn quy định tại Điều 147 của Bộ luật này, cơ quan có thẩm quyền giải quyết quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố khi thuộc một trong các trường hợp:

…c) Vì lý do khách quan, chưa triệu tập, lấy được lời khai của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố mà những nội dung này có ý nghĩa quyết định đối với việc khởi tố hoặc không khởi tố vụ án”.

          Trên đây là quan điểm cá nhân của người viết trong quá trình nghiên cứu BLTTHS 2015, xin được đưa ra để cùng trao đổi với các đồng nghiệp nhằm có được cách hiểu, vận dụng luật chính xác và nâng cao hơn nhận thức của bản thân. Rất mong nhận được sự quan tâm, trao đổi và chỉ dẫn của các đồng chí.

          Đồng Thị Lan Anh – Phòng 2 Viện KSND thành phố Hải Phòng.

Ứng dụng hỗ trợ nghiệp vụ

Tin tức
Thông tin cần biết
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1

Trang thông tin điện tử: VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG - Cơ quan chủ quản: VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO
Địa chỉ: Lô 18A, Lê Hồng Phong, P. Hải An, TP Hải Phòng - Điện thoại: 02253.838308 - Fax: 02253.839072 - Email: vp_haiphong@vks.gov.vn
Trưởng ban biên tập: Phó Viện trưởng Nguyễn Mạnh Vỹ
Số giấy phép: 03/GP-STTTT do Sở Thông tin và Truyền thông TP Hải Phòng cấp ngày 17 tháng 10 năm 2017 (Giấy phép có giá trị 10 năm)
Bản quyền thuộc về VKSND TP Hải Phòng - Thiết kế bởi VNPT | Quản trị

Chung nhan Tin Nhiem Mang