Hoàn thiện các quy định của pháp luật về thực hiện phiên tòa hình sự công bố tài liệu, chứng cứ bằng hình ảnh

Phiên tòa công bố
tài liệu, chứng cứ bằng hình ảnh
(nguồn http://vienkiemsathaiphong.gov.vn/)
1. Sự cần
thiết của việc thực hiện phiên tòa hình sự công bố tài liệu, chứng cứ bằng hình
ảnh
Ngày nay, việc ứng dụng công nghệ thông tin đang được
quan tâm đẩy mạnh trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, kể cả hoạt động xét
xử của các cơ quan tư pháp (Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân). Đối với
ngành Kiểm sát nhân dân, ứng dụng công nghệ thông tin để công bố tài liệu,
chứng cứ bằng hình ảnh tại phiên tòa đang là vấn đề được quan tâm, chú trọng để
qua đó nâng cao chất lượng tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Kể từ
khi có Chỉ thị số 06/CT - VKSTC ngày 05/11/2012 của Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân tối cao về tăng cường công tác thống kê và ứng dụng công nghệ thông
tin trong ngành Kiểm sát nhân dân, Công văn số 636/VKSTC - C2 ngày 22/02/2019
của Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Hướng dẫn số 575/HD - VKS ngày 13/09/2019
của VKSND thành phố Hải Phòng về việc số hóa hồ sơ vụ án, công tác số hóa hồ sơ
và thực hiện các phiên tòa hình sự công bố tài liệu, chứng cứ bằng hình ảnh ngày
càng được đẩy mạnh thực hiện, đáp ứng tốt hơn nhiệm vụ thực hành quyền công tố
của Kiểm sát viên tại các phiên tòa hình sự.
Việc trình chiếu, công bố các tài liệu, chứng cứ bằng
hình ảnh tại phiên tòa hình sự góp phần thực hiện nguyên tắc tranh tụng theo
tinh thần của Nghị quyết số 49 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp,
Điều 26 Bộ luật tố tụng hình sự “Mọi chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác
định vô tội, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, áp
dụng điểm, khoản, điều của Bộ luật hình sự để xác định tội danh, quyết định
hình phạt, mức bồi thường thiệt hại đối với bị cáo, xử lý vật chứng và những
tình tiết khác có ý nghĩa giải quyết vụ án đều phải được trình bày, tranh luận,
làm rõ tại phiên tòa”. Thực tiễn cho thấy việc công bố và xem xét chứng cứ thông
qua phương thức trình chiếu các tài liệu, chứng cứ đã được số hóa là cách thức
sinh động, thuyết phục và hiệu quả cao hơn so với phương pháp trình bày bằng
lời nói. Thông qua đó, giúp đảm bảo thực hiện tốt nguyên tắc công khai chứng cứ
tại phiên tòa và tăng cường hoạt động tranh tụng theo yêu cầu của cải cách tư
pháp.
2. Một số
giải pháp hoàn thiện pháp luật
Qua nghiên cứu các quy định của pháp luật và thực tiễn
cho thấy việc thực hiện công bố tài liệu, chứng cứ bằng hình ảnh còn gặp nhiều
khó khăn, tác giả bài viết đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật để
triển khai thực hiện có hiệu quả hơn trong thời gian tới. Cụ thể như sau:
Thứ nhất, trong thực tế, đã có nhiều địa phương vận
dụng quy định, bố trí các Kiểm tra viên ngồi cùng Kiểm sát viên tại phiên tòa,
Kiểm tra viên có nhiệm vụ trình chiếu các tài liệu, chứng cứ, dữ liệu điện tử (khi
Kiểm sát viên công bố tài liệu hoặc trình chiếu theo sự phân công của Kiểm sát
viên). Tuy nhiên, Quy chế công tác thực
hành quyền công tố, kiểm sát xét xử vụ án hình sự (Quy chế 505) chỉ quy định
Kiểm tra viên giúp việc Kiểm sát viên trong việc nghiên cứu hồ sơ vụ án (Điều
9) mà chưa có quy định cụ thể trong trường hợp trên. Theo quy định tại Thông tư
số 01 ngày 28/7/2017 của Tòa án nhân dân Tối cao quy định về phòng xử án cũng không
quy định vị trí chỗ ngồi của Kiểm tra viên tại phiên tòa hình sự sơ thẩm. Liên
quan đến vấn đề này, vị trí chỗ ngồi của Kiểm tra viên cũng có nhiều quan điểm
khác nhau, có quan điểm đồng tình với cách vận dụng đã nêu trên, nhưng cũng có
quan điểm cho rằng Kiểm tra viên phải ngồi phía dưới vì Kiểm tra viên không có
nhiệm vụ thực hành quyền công tố tại phiên tòa. Theo quan điểm tác giả đồng
tình với quan điểm thứ hai phù hợp với nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm tra viên
theo quy định của BLTTHS, Kiểm tra viên tham gia phiên tòa số hóa với tư cách
là một cán bộ hỗ trợ về kỹ thuật, trình chiếu các tài liệu, chứng cứ đã được số
hóa theo sự phân công của Kiểm sát viên. Từ những phân tích trên, đề xuất bổ
sung quy định tại Quy chế 505 và Thông tư số 01 ngày 28/7/2017 theo hướng quy
định rõ nhiệm vụ, quyền hạn và vị trí chỗ ngồi của Kiểm tra viên khi tham gia
các phiên tòa có công bố tài liệu, chứng cứ bằng hình ảnh.
Thứ hai, theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Thông tư số
01 ngày 28/7/2017 của Tòa án nhân dân tối cao chưa quy định các trang thiết bị
như máy tính kết nối mạng internet, máy chiếu là các trang thiết bị bắt buộc
phải có trong phòng xử án, dẫn đến việc trình bày, công bố các tài liệu chứng
cứ là dữ liệu điện tử phục vụ cho hoạt động tranh luận tại phiên tòa gặp khó
khăn. Đề xuất cần sửa đổi, bổ sung Thông tư số 01 ngày 28/7/2017 của Tòa án
nhân dân Tối cao theo hướng quy định phòng xử án phải đảm bảo có đủ các trang
thiết bị trên, quy định cụ thể vị trí đặt máy chiếu phải thuận lợi cho những
người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng quan sát, đảm bảo nguyên tắc
công khai chứng cứ và nguyên tắc tranh tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng
hình sự.
Thứ ba, để thực hiện công bố tài liệu, chứng cứ bằng
hình ảnh thì phải có hồ sơ, tài liệu được số hóa. Hiện nay, Ngành đã có hướng
dẫn về việc số hóa hồ sơ, tuy nhiên chưa quy định rõ cơ chế kiểm sát việc lập
hồ sơ số hóa, giá trị pháp lý của hồ sơ số hóa, trong trường hợp tài liệu số
hóa không khớp với tài liệu có trong hồ sơ vụ án (có thể do vi rút, do thao tác
số hóa ….) thì sẽ căn cứ vào tài liệu nào? Tại phiên tòa số hóa, những tài liệu
số hóa nào bắt buộc phải trình chiếu? Đề xuất ngành cần tiếp tục có văn bản hướng
dẫn về công tác thực hiện phiên tòa số hóa theo hướng quy định rõ tài liệu số
hóa được trình chiếu tại phiên tòa chỉ được coi là chứng cứ nếu tài liệu đó phù
hợp với tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Trước khi thực hiện phiên tòa số hóa,
Kiểm sát viên báo cáo xét xử phải đưa thêm một mục riêng nêu rõ các tài liệu,
số bút lục sẽ trình chiếu tại phiên tòa để Lãnh đạo kiểm duyệt và chỉ đạo thực
hiện (Ví dụ: chỉ thực hiện trình chiếu các tài liệu, chứng cứ để chứng minh
hành vi phạm tội, đồng phạm, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự,
hoặc các tài liệu hình ảnh về hoạt động tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát
viên như hoạt động khám nghiệm, khám xét, hỏi cung….).
Trên đây là quan điểm cá nhân của tác giả
bài viết xin đưa ra trao đổi cùng đồng nghiệp và bạn đọc./.
Nguyễn Đình Vinh, Kiểm tra viên VKSND quận
Lê Chân