Kiểm sát hoạt động thu thập chứng cứ của Thẩm phán theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự
Trong xu thế các tranh chấp hành chính, kinh doanh thương mại và lao động ngày càng phức tạp, việc Thẩm phán phải tiến hành các hoạt động thu thập chứng cứ, đảm bảo việc giải quyết vụ án được toàn diện, khách quan đang trở nên thường xuyên và phổ biến. Theo đó, Kiểm sát viên được phân công giải quyết vụ án cũng phải tăng cường kiểm sát việc chấp hành pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, trong đó có hoạt động thu thập chứng cứ. Qua thực tiễn công tác, tôi thấy trong hoạt động này còn một số vấn đề cần đưa ra trao đổi như sau:
Ví dụ, sau khi thụ lý vụ án Kinh doanh thương mại tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa nguyên đơn là ngân hàng A và bị đơn là công ty trách nhiệm hữu hạn B, xác định được hiện tại, cả bị đơn và người có quyền và nghĩa vụ liên quan đều không còn hoạt động, sinh sống tại địa chỉ cũ (theo đăng ký kinh doanh và sổ hộ khẩu nguyên đơn đã cung cấp), hiện không xác định được họ ở đâu. Trong quá trình giải quyết, Thẩm phán tiến hành thu thập chứng cứ để xác định địa chỉ hiện tại của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (hiện tại không có mặt tại ở phương). Thẩm phán đã gửi công văn đề nghị Sở kế hoạch và đầu tư thành phố H cung cấp thông tin về đăng ký kinh doanh mới nhất và tình trạng hoạt động của bị đơn; gửi công văn đề nghị Chi cục thuế quận K, Chi cục thuế quận N cung cấp thông tin về tình hình kê khai nộp thuế của công ty này. Các cơ quan được đề nghị đều có công văn trả lời theo nội dung Thẩm phán yêu cầu.
Đối với hoạt động nêu trên của Thẩm phán, hiện có hai quan điểm như sau:
Quan điểm thứ nhất cho rằng: hoạt động trên của Thẩm phán chính là việc tiến hành thu thập chứng cứ theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 85 Bộ luật Tố tụng dân sự:“Trong các trường hợp do Bộ luật này quy định, Thẩm phán có thể tiến hành một hoặc một số biện pháp sau đây để thu thập tài liệu, chứng cứ:
g) Yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được hoặc hiện vật khác liên quan đến vụ việc dân sự”
Trong trường hợp này, Thẩm phán phải ban hành quyết định thu thập chứng cứ, trong đó nêu rõ lý do và yêu cầu của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 85 Bộ luật Tố tụng dân sự: “Khi tiến hành các biện pháp quy định tại các điểm b, c, d, đ, e và g khoản 2 Điều này, Thẩm phán phải ra quyết định, trong đó nêu rõ lý do và yêu cầu của Tòa án.”
Với quy định này, khi gửi văn bản đề nghị các cơ quan nêu trên cung cấp tài liệu đọc được liên quan đến vụ án (công văn trả lời của các cơ quan được yêu cầu), Thẩm phán không ban hành Quyết định thu thập chứng cứ là chưa thực hiện đúng quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 85 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Quan điểm thứ hai cho rằng: Việc Thẩm phán yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được hoặc hiện vật khác liên quan đến vụ việc dân sự cần hiểu là những tài liệu do cá nhân tổ chức đó ban hành, lưu giữ theo thẩm quyền (ví dụ: đăng ký kinh doanh, bản kê khai đóng thuế...). Khi được Thẩm phán yêu cầu, cá nhân, cơ quan này có trách nhiệm cung cấp những tài liệu đó hoặc bản sao thì mới thuộc trường hợp thu thập chứng cứ theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 85 Bộ luật Tố tụng dân sự. Còn hoạt động Thẩm phán gửi công văn đến những cơ quan nêu trên và được họ trả lời bằng văn bản chỉ là trường hợp Thẩm phán lấy lời khai của người làm chứng theo quy định tại Điều 87 Bộ luật Tố tụng dân sự, không cần ban hành Quyết định thu thập chứng cứ. Vì người làm chứng này là cơ quan nên thể hiện nội dung hoạt động lấy lời khai bằng công văn chứ đây không phải là tài liệu đọc được do cơ quan được yêu cầu cung cấp theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 85 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Theo tôi, hiểu theo quan điểm thứ hai là thiếu sự thống nhất trong thực hiện Bộ luật Tố tụng dân sự. Bởi vì, khi Thẩm phán yêu cầu, các cơ quan nêu trên có thể trả lời bằng công văn tổng hợp các nội dung họ cung cấp hoặc gửi trực tiếp bản sao những tài liệu chứng minh cho yêu cầu của Thẩm phán (bản sao đăng ký kinh doanh, kê khai đóng thuế...). Về bản chất, công văn trả lời là sự tổng hợp nội dung của những tài liệu Thẩm phán yêu cầu cung cấp, có giá trị tương đương những tài liệu đó. Hơn nữa, khi gửi công văn yêu cầu, Thẩm phán không thể biết trước cơ quan này sẽ trả lời bằng công văn hay gửi tài liệu vì họ có quyền cung cấp thông tin cho Thẩm phán bằng một trong hai cách trên. Nếu cơ quan được yêu cầu trả lời bằng cách gửi bản sao những tài liệu chứng minh cho yêu cầu của Thẩm phán thì với quan điểm thứ hai, Thẩm phán có phải ban hành Quyết định thu thập chứng cứ không? Việc ban hành Quyết định thu thập chứng cứ sau khi đã nhận được tài liệu cung cấp có đúng quy định và có giá trị không?
Như đã phân tích, nếu theo quan điểm thứ hai, việc ban hành Quyết định thu thập chứng cứ của Thẩm phán là hoạt động chủ động, phải thực hiện trước lại phụ thuộc vào kết quả, hình thức trả lời của bên được yêu cầu. Điều đó là không đúng tinh thần quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự đối với hoạt động này. Bên cạnh đó, nếu thực hiện theo quan điểm thứ hai, sẽ dẫn đến tình trạng phân biệt đối xử giữa người làm chứng là cơ quan, tổ chức với người làm chứng là cá nhân. Không có Điều luật nào của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định hình thức lấy lời khai của cá nhân là bằng biên bản còn với tổ chức thì bằng công văn. Điều 87 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định rõ việc lấy lời khai của người làm chứng phải lập thành biên bản theo đúng thủ tục, quy định tại khoản 2 Điều 86 Bộ luật này. Nếu hiểu theo quan điểm thứ hai, Thẩm phán khi thu thập chứng cứ cũng thực hiện chưa đúng quy định về hình thức, thủ tục lấy lời khai, tạo nên sự không thống nhất trong việc áp dụng Bộ luật Tố tụng dân sự.
Hiện nay, chưa có hướng dẫn cụ thể cho vấn đề đã nêu trên. Vì vậy, việc hiểu và áp dụng Bộ luật Tố tụng dân sự có thể có nhiều quan điểm trái chiều. Tuy nhiên, theo tôi, trên tinh thần đảm bảo sự chặt chẽ cho mỗi hoạt động tố tụng cũng như hướng tới sự thống nhất áp dụng Luật tố tụng dân sự, nên hiểu và thực hiện theo quan điểm thứ nhất như đã phân tích ở trên trong hoạt động thu thập chứng cứ của Thẩm phán.
Trên đây là ý kiến của tôi, rất mong được sự hướng dẫn của cấp trên và sự quan tâm, trao đổi của các đồng nghiệp.
Đồng Thị Lan Anh – Viện kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền.