Kỹ năng phát hiện vi phạm để nâng cao chất lượng kháng nghị phúc thẩm án dân sự
Kháng nghị phúc thẩm dân sự là một trong những
quyền năng pháp lý của Viện kiểm sát nhân dân được quy định trong tố tụng dân sự,
là nhiệm vụ trọng tâm của công tác kiểm sát hoạt động tư pháp nhằm thực hiện tốt
chức năng, nhiệm vụ của Ngành, góp phần vào việc giải quyết các vụ, việc dân sự,
hôn nhân và gia đình của Tòa án theo đúng quy định của pháp luật, đảm bảo các
quyền và lợi ích của Nhà nước, của công dân được tôn trọng và bảo vệ.
1. Quy định về quyền kháng nghị phúc thẩm của
Viện kiểm sát
Điều 278 BLTTDS 2015 quy định: “Viện trưởng
VKS cùng cấp và cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án sơ thẩm, quyết định
tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân
sự của Tòa án cấp sơ thẩm để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết lại theo
thủ tục phúc thẩm”
Quy định của BLTTDS về người có quyền kháng
nghị theo thủ tục phúc thẩm dân sự là đặc điểm để phân biệt với kháng nghị giám
đốc thẩm và tái thẩm dân sự.
Viện trưởng VKSND có quyền kháng nghị phúc
thẩm hoặc kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm. Tuy nhiên, kháng nghị giám đốc thẩm,
tái thẩm của Viện trưởng VKSND được thực hiện đối với các bản án, quyết định đã
có hiệu lực pháp luật và bản án, quyết định đó có sai lầm, vi phạm pháp luật hoặc
phát hiện có tình tiết mới. Còn kháng nghị phúc thẩm của Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân được áp dụng trong trường hợp bản án, quyết định sơ thẩm chưa có
hiệu lực pháp luật. Cụ thể:
Viện trưởng VKSNDTC có thẩm quyền kháng nghị
theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
của TAND cấp cao, bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án khác khi
xét thấy cần thiết, trừ quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao nhưng không có quyền kháng nghị phúc thẩm đối với bản án, quyết
định sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp huyện, Tòa án nhân dân cấp tỉnh chưa có hiệu
lực pháp luật.
Viện trưởng VKSND cấp cao có quyền kháng
nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực
pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện trong phạm vi
thẩm quyền theo lãnh thổ, nhưng có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối
với bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp
tỉnh.
Viện trưởng VKSND cấp tỉnh chỉ có quyền
kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu
lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh mà không có quyền kháng nghị giám đốc
thẩm, tái thẩm.
Viện trưởng VKSND cấp huyện chỉ có quyền
kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu
lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp huyện mà không có quyền kháng nghị giám đốc
thẩm, tái thẩm.
2. Quy định về thời hạn kháng nghị
- Thời hạn kháng nghị đối với bản án của
Tòa án cấp sơ thẩm của VKS cùng cấp là 15 ngày, của VKS cấp trên trực tiếp là 1
tháng, kể từ ngày tuyên án. Trường hợp KSV không tham gia phiên tòa thì thời hạn
kháng nghị tính từ ngày VKS cùng cấp nhận được bản án (khoản 1 Điều 280 BLTTDS)
- Thời hạn kháng nghị của VKS cùng cấp đối
với quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm
là 07 ngày, của VKS cấp trên trực tiếp là 10 ngày, kể từ ngày VKS cùng cấp nhận
được quyết định (khoản 2 Điều 280 BLTTDS)
- Thời hạn kháng nghị của VKS cùng cấp đối
với quyết định giải quyết việc dân sự là 10 ngày, VKS cấp trên trực tiếp có quyền
kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định (trừ quyết định
giải quyết việc dân sự quy định tại khoản 7 Điều 27, khoản 2, khoản 3 Điều 29
BLTTDS) (Điều 371-372 BLTTDS)
Ngoài ra khoản 3 Điều 280 BLTTDS năm 2015
có quy định hoàn toàn mới về việc Viện kiểm sát phải giải thích với Tòa án khi
kháng nghị quá hạn: “Khi Tòa án nhận được quyết định kháng nghị của Viện kiểm
sát mà quyết định kháng nghị đó đã quá thời hạn quy định tại khoản 1 và khoản 2
Điều này thì Tòa án cấp sơ thẩm yêu cầu Viện kiểm sát giải thích bằng văn bản
và nêu rõ lý do”.
Hiện nay, BLTTDS năm 2015 chưa có văn bản
hướng dẫn nên còn gây ra nhiều cách hiểu khác nhau. Vậy việc quy định Viện kiểm
sát phải giải thích bằng văn bản và nêu rõ lý do khi kháng nghị quá hạn có được
hiểu là luật cho phép Viện kiểm sát có quyền kháng nghị quá hạn hay không?
Nếu có thì có trái với lý luận của tố tụng
dân sự không? Vì: xuất phát từ chức năng của Viện kiểm sát là kiểm sát việc
tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự nên Viện kiểm sát không thể viện dẫn
nguyên tắc khách quan hay chủ quan để kháng nghị quá hạn được; hơn nữa Viện trưởng
Viện kiểm sát phải là người có thẩm quyền, chuyên môn, kiến thức pháp lý nên họ
phải biết và có đủ điều kiện để thực hiện việc kháng nghị theo đúng thời hạn
pháp luật quy định. Nếu cho Viện kiểm sát kháng nghị quá hạn sẽ làm cho bản án,
quyết định sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật trở thành chưa có hiệu lực. Bởi lẽ,
khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị nếu không có chủ thể nào kháng cáo,
kháng nghị thì bản án sẽ có hiệu lực pháp luật và được thi hành, nếu để Viện kiểm
sát được kháng nghị quá hạn thì bản án, quyết định sơ thẩm đã có hiệu lực pháp
luật lại trở thành không có hiệu lực pháp luật, đây là quy định rất bất hợp lí
trong các thủ tục tố tụng, làm ảnh hưởng nghiêm trọng, xâm phạm đến quyền lợi
ích hợp pháp của các đương sự.
Nếu không cho phép Viện kiểm sát có quyền
kháng nghị quá hạn thì quy định trên lại không có tính khả thi trong thực tiễn.
Vì vậy cần thiết phải có văn bản hướng dẫn
của liên ngành trung ương xác định rõ các trường hợp VKS được quyền kháng nghị
quá hạn (ví dụ: sự kiện bất khả kháng, trường hợp Tòa án không chuyển hồ sơ cho
VKS…) để Tòa án cấp phúc thẩm phải xem xét, chấp nhận đối với kháng nghị quá hạn
đó.
3. Một số kỹ năng phát hiện vi phạm để nâng
cao chất lượng kháng nghị phúc thẩm
Qua thực tế công tác kiểm sát bản án, quyết
định giải quyết các vụ, việc dân sự, hôn nhân và gia đình cho thấy, nội dung
kháng nghị chủ yếu gồm các dạng vi phạm:
- Bỏ sót người tham gia tố tụng.
- Không thu thập đầy đủ chứng cứ, áp dụng
pháp luật không đúng
- Tính lãi suất, án phí không đúng quy định
của pháp luật.
- Tuyên quyền kháng cáo không đúng.
…..
Để thực hiện tốt chức năng kiểm sát hoạt động
tư pháp, hạn chế những vi phạm, thiếu sót trong giải quyết các vụ, việc dân sự,
hôn nhân và gia đình của Tòa án, với tư cách là một Kiểm sát viên, tôi xin nêu
một số kinh nghiệm và những vấn đề KSV phải lưu ý như sau:
3.1 Đối với các trường hợp KSV phải tham
gia phiên tòa, phiên họp
Trước hết KSV phải có kỹ năng nghiên cứu hồ
sơ để kiểm sát được việc lập hồ sơ của Tòa án.
3.1.1
Về hình thức
+ Trình tự tố tụng theo thời gian (nộp án
phí, thụ lý, tạm đình chỉ, đình chỉ, xét xử) (vì đã có trường hợp án phí nộp
sau khi thụ lý vụ án),
+ Việc xác định tư cách những người tham
gia tố tụng,
+ Trình tự, thủ tục hòa giải, công khai chứng
cứ (ví dụ đối với các vụ án hôn nhân và gia đình liên quan đến người chưa thành
niên, trước khi mở phiên họp ktra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ
và hòa giải giữa các đương sự thì phải thu thập tài liệu, chứng cứ để xác định
nguyên nhân của việc phát sinh tranh chấp)
3.1.2 Về nội dung:
Kiểm sát đơn khởi kiện đương sự yêu cầu giải
quyết vấn đề gì để xác định thuộc loại án nào, quan hệ pháp luật nào điểu chỉnh.
Kiểm tra tính hợp pháp của các chứng cứ đương sự xuất trình. Trình tự thu thập
chứng cứ của Tòa án…
Khi nghiên cứu xong hồ sơ, KSV tiến hành lập
hồ sơ kiểm sát phải tuân thủ các thao tác nghiệp vụ theo hướng dẫn của Ngành. Cần
lưu ý, mỗi loại tranh chấp có đặc điểm khác nhau, nên khi nghiên cứu chúng ta cần
lựa chọn phương pháp nghiên cứu, xem xét đánh giá thu thập chứng cứ và áp dụng
pháp luật cho phù hợp. Kiểm sát viên cần đặc biệt lưu ý phần nội dung vụ án,
nghiên cứu kỹ, toàn diện và trích sao đầy đủ các tài liệu, chứng cứ, lời khai của
đương sự để phục vụ cho công tác kiểm sát bản án sau khi tham gia phiên toà.
Tránh trường hợp sau khi xét xử phát hiện bản án có vi phạm nhưng việc trích cứu
sơ sài hoặc không phô tô những tài liệu, chứng cứ quan trọng gây khó khăn cho
công tác kháng nghị.
- Hoạt động của KSV tại phiên tòa, phiên họp:
ngoài việc kiểm sát việc chấp hành pháp luật tố tụng của người tiến hành tố tụng,
người tham gia tố tụng, Kiểm sát viên cần lưu ý đến việc bổ sung chứng cứ (nếu
có) của đương sự có hợp pháp không, các chứng cứ do các đương sự đưa ra có được
xem xét đánh giá đầy đủ, toàn diện và khách quan không; việc áp dụng pháp luật
về nội dung có đúng không.
- Sau phiên tòa, phiên họp: phải kiểm sát
việc Tòa án bản án, quyết định cho Viện kiểm sát. Mục đích chủ yếu của công tác
kiểm sát bản án, quyết định là phát hiện có vi phạm hay không để ban hành kiến
nghị hoặc quyết định kháng nghị nên Kiểm sát viên cần quan tâm đôn đốc Toà án gửi
bản án kịp thời, đúng thời hạn luật định cho Viện kiểm sát, đồng thời việc
nghiên cứu bản án, quyết định phải được tiến hành nhanh chóng, kịp thời đảm bảo
nếu phát hiện vi phạm thì vẫn còn thời hạn để ban hành kháng nghị. Đối với những
vụ án Viện kiểm sát có tham gia phiên toà cần kết hợp việc nghiên cứu án văn với
nghiên cứu hồ sơ vụ án, đối với những vụ án Viện kiểm sát không tham gia phiên
toà nếu phát hiện có dấu hiệu vi phạm cần yêu cầu Toà án chuyển hồ sơ nghiên cứu
kịp thời.
3.2. Đối với các trường hợp KSV không tham
gia phiên tòa chỉ kiểm sát bản án, quyết định
3.2.1 Về hình thức
Có đúng mẫu quy định theo Nghị quyết
01/2017 ngày 13/01/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành
một số biểu mẫu trong tố tụng dân sự.
3.2.2 Về thời hạn gửi
Việc kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát
chỉ có thời hạn nhất định nên KSV phải ưu tiên kiểm sát bản án, quyết định giải
quyết việc ngay sau khi nhận được để kịp thời kháng nghị nếu có vi phạm. Trong
trường hợp KSV không tham gia phiên tòa, khi nhận bản án, quyết định phải lưu ý
việc ký nhận vì thời hạn kháng nghị phúc thẩm kể từ ngày nhận được bản án, quyết
định.
3.2.3.Về nội dung
- Kiểm sát số, ngày, tháng thụ lý vụ án, nộp
án phí nhằm phát hiện vi phạm về thời hiệu, thời hạn giải quyết vụ án (trên cơ
sở ngày đương sự nộp án phí, Tòa án thụ lý vụ án, ngày Tòa án ra các quyết định,
bản án, qua đó đối chiếu với quy định của BLTTDS để xác định Tòa án có vi phạm
thời hạn giải quyết không).
- Việc xác định tư cách tham gia tố tụng của
các đương sự: thực tiễn cho thấy có nhiều vụ án xác định sai tư cách tham gia tố
tụng của đương sự và chủ yếu là bỏ sót người tham gia tố tụng. Ví dụ: đối với
các vụ án liên quan đến việc chuyển nhượng, thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất
đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ gia đình nhưng Tòa án
không đưa đầy đủ những người trong hộ gia đình hoặc người đang trực tiếp quản
lý, sử dụng đất tham gia tố tụng, có trường hợp đất đang được thế chấp tại Ngân
hàng để vay vốn. Hay đối với các vụ án tranh chấp về hôn nhân gia đình, trong
đó vợ chồng có việc vay nợ (ngân hàng, cá nhân, tổ chức) nhưng Tòa án lại không
đưa họ vào tham gia tố tụng.... Hoặc có trường hợp Tòa án lại xác định chủ thể
tham gia tố tụng không có tư cách pháp nhân (Chi nhánh ngân hàng, Văn phòng đại
diện....). Đây là những vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng thường dẫn đến
việc Toà án cấp trên huỷ án vì ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp
pháp của người khác.
- Phạm vi xét xử của Tòa án: thông qua việc
xem xét nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, phản tố của bị đơn, yêu cầu
độc lập của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Thực tế đã xảy ra nhiều
trường hợp Toà án giải quyết vụ án vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện của đương
sự. Hoặc có trường hợp lại bỏ sót yêu cầu khởi kiện của đương sự, thường xảy ra
trong các tranh chấp hợp đồng vay tài sản,
nguyên đơn có yêu cầu xử lý tài sản thế chấp nhưng phần quyết định của bản án
không quyết định chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn; hoặc
trong vụ án bị đơn có yêu cầu phản tố, bản án có nhận định yêu cầu phản tố của
bị đơn không có cơ sở nhưng không quyết định chấp nhận hay không chấp nhận yêu
cầu phản tố của bị đơn. Ngoài ra trong một số vụ án hôn nhân và gia đình, vợ chồng
yêu cầu chia tài sản chung với số lượng lớn, nhiều loại nên quyết định phân
chia của Tòa án bỏ sót một số tài sản chung vợ chồng đã kê khai và yêu cầu
chia.Vì vậy quá trình nghiên cứu bản án cần xác định chính xác đương sự yêu cầu
Tòa án giải quyết những nội dung gì, bị đơn có phản tố, người có quyền lợi
nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập không, đã nộp án phí phản tố, tiền tạm ứng
án phí đối với yêu cầu độc lập hay chưa từ đó đối chiếu với nội dung phần quyết
định của bản án để xác định Tòa án có giải quyết đúng nội dung yêu cầu của
đương sự không.
- Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp: Kiểm
sát viên cần nắm chắc nội dung vụ án để xác định đúng quan hệ tranh chấp, xác định
đúng quan hệ tranh chấp sẽ xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương
sự và xác định đúng điều luật cần áp dụng, thời hiệu giải quyết vụ án, đặc biệt
là trong những vụ án có hai quan hệ tranh chấp cần xác định đầy đủ quan hệ
tranh chấp, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong từng quan hệ.
Trong thực tế xảy ra một số trường hợp vụ án có hai quan hệ tranh chấp nhưng phần
tiêu đề bản án chỉ xác định một quan hệ tranh chấp hoặc xác định sai quan hệ
tranh chấp. Ví dụ: nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng chuyển
nhượng nhà đất vô hiệu và yêu cầu chia thừa kế đối với nhà đất đó, Toà án chỉ
xác định là vụ án Tranh chấp di sản thừa kế dẫn đến việc xác định sai tư cách
tham gia tố tụng của đương sự.
- Kiểm sát việc thu thập chứng cứ và đánh
giá chứng cứ của Tòa án: Kiểm sát viên cần nghiên cứu nội dung của bản án, xem
xét, đánh giá một cách khách quan, toàn diện toàn bộ nội dung yêu cầu của
nguyên đơn, ý kiến của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, yêu cầu
phản tố (nếu có) và những tài liệu, chứng cứ Tòa án đã thu thập, đương sự cung
cấp; nội dung các văn bản trả lời của các cơ quan chức năng để xác định sự thật
khách quan của vụ án. Qua đó, xem xét phần nhận định của bản án có phù hợp với
những tình tiết khách quan của vụ án không, nội dung quyết định của bản án có
phù hợp với quy định của pháp luật không làm cơ sở cho việc phát hiện những vi
phạm, thiếu sót của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án để thực hiện quyền
kháng nghị, kiến nghị.
- Kiểm sát phần nhận định và quyết định của
bản án có phù hợp với nhau không? Ví dụ bản án nhận định tại phiên toà nguyên
đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện nhưng phần quyết định không đình chỉ phần
yêu đã rút đó, nhận định một trong các yêu cầu khởi kiện của đương sự không có
căn cứ nhưng không quyết định không chấp nhận yêu cầu đó của nguyên đơn. Tòa án áp dụng các căn cứ pháp luật có chính
xác không, còn hiệu lực không. Vì hiện nay khi giải quyết các vụ án do thời điểm
giao thời giữa 2 BLTTDS và BLDS nên vẫn còn nhiều bản án, quyết định bị nhầm giữa
2 bộ luật 2005 và 2015.
- Kiểm sát việc tuyên án phí, lệ phí và quyền
kháng cáo. Vi phạm điển hình như: việc dân sự nhưng lại tuyên người yêu cầu phải
chịu án phí, vụ án nhưng lại tuyên đương sự phải chịu lệ phí; tuyên quyền kháng
cáo cho người bị yêu cầu trong các việc yêu cầu tuyên bố mất tích, tuyên bố chết;
quyết định tuyên bố một người mất tích, Tòa án lại tuyên quyền kháng cáo cho
người bị tuyên bố mất tích là không đúng hay tuyên quyền kháng nghị, kháng cáo
đối với quyết định giải quyết việc quy định tại khoản 7 Điều 27, khoản 2, khoản
3 Điều 29 BLTTDS- là những trường hợp có hiệu lực pháp luật ngay sau khi ban
hành quyết định.
- Đối với quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ,
Tòa án có tuyên về hậu quả của việc đình chỉ không, tính án phí có đảm bảo quy
định không (ví dụ: đình chỉ trong trường hợp nguyên đơn được triệu tập hợp lệ lần
thứ hai nhưng vắng mặt thì án phí phải sung công quỹ nhà nước nhưng Tòa án lại
tuyên án phí trả lại cho đương sự là vi phạm); tuyên quyền kháng cáo, kháng nghị
có đúng không?
Riêng đối với các Quyết định công nhận
sự thỏa thuận do có hiệu lực pháp luật ngay nên VKS không có quyền kháng nghị,
tuy nhiên cần chú ý việc thỏa thuận của đương sự đã phù hợp qui định của
pháp luật chưa; có làm thiệt hại đến quyền lợi của người thứ ba không; việc áp
dụng án phí, lệ phí của Tòa án theo quy định của pháp lệnh số
10/2009/PL-UBTVQH12 ngày 27/02/2009 và Nghị quyết 326/NQ- UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội có đúng quy định không để làm căn cứ
kiến nghị (ví dụ các đương sự thỏa thuận được việc ly hôn, cấp dưỡng nuôi con
nhưng Tòa án tuyên án phí cấp dưỡng nuôi con là 300.000đ, hay đối với các vụ án
liên quan đến hợp đồng tín dụng, theo quy định tuyên lãi suất chậm trả phải
theo hợp đồng tín dụng nhưng Tòa án lại tuyên theo quy định của khoản 2 Điều
357 BLDS…).
Trên đây là một số kinh nghiệm của cá nhân
tôi trong quá trình nghiên cứu, kiểm sát bản án, quyết định để phát hiện vi phạm
nhằm nâng cao chất lượng công tác kháng nghị phúc thẩm án dân sự. Rất mong nhận
được ý kiến đóng góp của các đồng nghiệp.
Đào Thị Huệ, Kiểm sát viên Phòng 9 VKS TP