I. TỔNG QUAN VÀ NHỮNG NỘI DUNG SỬA ĐỔI, BỔ SUNG
Dự thảo Luật gồm 23 chương, 372 điều bao gồm: Bổ sung 05 chương mới, giữ nguyên 87 điều; Sửa đổi, bổ sung 175 điều; Bổ sung mới 110 Điều, gồm:
1. Chương I - Những quy định chung
Chương này gồm có 29 điều (từ Điều 1 đến Điều 29) quy định về phạm vi điều chỉnh; hiệu lực của Luật Tố tụng hành chính; giải thích từ ngữ và các nguyên tắc cơ bản trong tố tụng hành chính, trong đó các khái niệm quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc đối tượng khởi kiện vụ án hành chính và quyết định hành chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức không thuộc đối tượng khởi kiện vụ án hành chính được sửa đổi, bổ sung để phù hợp với quy định của các luật có liên quan, khắc phục cách hiểu và áp dụng không thống nhất trong thực tiễn xét xử của các Toà án nhân dân. Đồng thời, các nguyên tắc cơ bản trong tố tụng hành chính được thể hiện trong Chương này cũng được bổ sung để cụ thể hoá quy định của Hiến pháp năm 2013 và phù hợp với các quy định mới của Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, bao gồm: bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử; nguyên tắc áp dụng án lệ hành chính; nguyên tắc bảo đảm Thẩm phán, Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong xét xử; xét xử theo thủ tục rút gọn, bảo đảm chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm; xử lý các văn bản hành chính có liên quan và kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền xử lý các văn bản pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội trong quá trình giải quyết vụ án hành chính.
Một số điểm sửa đổi bổ sung, điểm mới đáng lưu ý của chương này gồm:
- Giải thích từ ngữ (Điều 3):
+ Bổ sung quy định Quyết định bị kiện, hành vi bị kiện;
+ QĐ hành chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ bao gồm nhiệm vụ, kế hoạch, quản lý cán bộ, kinh phí, tài sản được giao, thanh tra, kiểm tra, việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ, chính sách pháp luật đối với công chức, viên chức, người lao động,....
+ Người khởi kiện gồm: cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khởi kiện danh sách cử tri bầu cử Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp; trưng cầu dân ý;
+ Bổ sung khái niệm mới: vụ án phức tạp, trở ngại khách quan, sự kiện bất khả kháng.
- Giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại trong vụ án hành chính (Điều 7):
+ Khoản 1 đoạn 2 “Người khởi kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu bồi thường thiệt hại có nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ. Trường hợp cần thiết, Tòa án có thể tiến hành xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án được chính xác.
Khi giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại trong vụ án hành chính, các quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và pháp luật về tố tụng dân sự được áp dụng để giải quyết”.
+ Khoản 2 đoạn 2 “Trường hợp Tòa án giải quyết cả phần yêu cầu bồi thường thiệt hại cùng với việc giải quyết vụ án hành chính mà phần quyết định của bản án về bồi thường thiệt hại bị kháng cáo hoặc kháng nghị hoặc bị Tòa án cấp phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm hủy để xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm lại thì phần quyết định về bồi thường thiệt hại trong các trường hợp này là một phần của vụ án hành chính. Thủ tục giải quyết đối với phần quyết định về bồi thường thiệt hại bị kháng cáo, kháng nghị hoặc bị hủy để xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm lại được thực hiện theo quy định của Luật này”.
- Nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền (Điều 10): phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc cung cấp tài liệu, chứng cứ đó; trường hợp không cung cấp được thì phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho đương sự, Tòa án, Viện kiểm sát biết.
- Bảo đảm chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm (Điều 11): thay việc chế độ xét xử hai cấp bằng việc nêu rõ chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm.
- Hội thẩm nhân dân tham gia xét xử vụ án hành chính (Điều 12): Về nguyên tắc Hội thẩm nhân dân tham gia xét xử tuy nhiên có yếu tố loại trừ đối với trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn.
- Đối thoại trong tố tụng hành chính (Điều 20): Về nguyên tắc Tòa án có trách nhiệm tiến hành đối thoại theo quy định của Luật này.
- Trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng (Điều 22): Khoản 2 “Tòa án có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
Viện kiểm sát có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất”.
- Trách nhiệm chuyển giao tài liệu, giấy tờ của Tòa án (Điều 26): Bỏ quy định về thời hạn thông báo kết quả chuyển giao tài liệu.
2. Chương II - Thẩm quyền của Tòa án
Chương này gồm có 6 điều (từ Điều 30 đến Điều 35) quy định về những khiếu kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án; sửa đổi, bổ sung về thẩm quyền của Tòa án từng cấp để phù hợp với quy định của Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 2014; Điều 31, 32 quy định sửa đổi thẩm quyền của Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh theo hướng khiếu kiện đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Uỷ ban nhân dân cấp huyện, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện thì không thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân cấp huyện mà thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân cấp tỉnh để bảo đảm tính hiệu quả, khả thi trong việc giải quyết các khiếu kiện hành chính. Đồng thời, pháp điển hoá các văn bản hướng dẫn hiện hành về giải quyết trường hợp vừa có đơn khiếu nại, vừa có đơn khởi kiện, tách, nhập, chuyển vụ án cho Toà án khác và tranh chấp về thẩm quyền giữa các Toà án.
Theo đó, Điều 33 hướng dẫn xác định thẩm quyền trong trường hợp vừa có đơn khiếu nại, vừa có đơn khởi kiện thì xác định rõ nguyên tắc nếu như khiếu nại thì thôi khởi kiện và ngược lại.
3. Chương III - Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và việc thay đổi người tiến hành tố tụng
Chương này gồm có 17 điều (từ Điều 36 đến Điều 52) quy định về cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và việc thay đổi người tiến hành tố tụng trên cơ sở pháp điển hoá các văn bản hiện hành có liên quan và bổ sung quy định mới về việc cơ quan tiến hành tố tụng khi giải quyết các vụ án hành chính có quyền kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền xem xét, sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ văn bản pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội để cụ thể hoá quy định tại khoản 7 Điều 2 Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 2014.
- Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng (Điều 36): Bổ sung người tiến hành tố tụng: Thẩm tra viên của Tòa án và Kiểm tra viên của VKS.
- Nhiệm vụ, quyền hạn của Chánh án Tòa án (Điều 37):
+ Khoản 2 “ Khi Chánh án vắng mặt, một Phó Chánh án được Chánh án ủy nhiệm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Chánh án, trừ quyền quyết định kháng nghị quy định tại điểm e khoản 1 Điều này. Phó Chánh án chịu trách nhiệm trước Chánh án về thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được ủy nhiệm”.
- Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán Tòa án (Điều 38):
- Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm tra viên (Điều 40) – Điều mới
Khi được Chánh án Tòa án phân công, Thẩm tra viên có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
1. Thẩm tra hồ sơ vụ án hành chính mà bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật cần xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm;
2. Kết luận về việc thẩm tra và báo cáo kết quả thẩm tra, đề xuất phương án giải quyết vụ án hành chính với Chánh án Tòa án;
3. Thu thập tài liệu, chứng cứ theo quy định của Luật này;
4. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của Luật này.
- Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng Viện kiểm sát (Điều 42):
+ Khoản 1 “d) Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định của Tòa án theo quy định của Luật này”
+ Khoản 2 “Khi Viện trưởng vắng mặt, một Phó Viện trưởng được Viện trưởng ủy nhiệm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng, trừ quyền quyết định kháng nghị quy định tại điểm d khoản 1 Điều này. Phó Viện trưởng chịu trách nhiệm trước Viện trưởng về thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được ủy nhiệm”.
- Nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên (Điều 43): Cụ thể hóa các quyền trực tiếp của Kiểm sát viên như kiểm sát trả lại đơn khởi kiện, kiểm sát thụ lý, nghiên cứu hồ sơ, xác minh thu thập chứng cứ, tham gia phiên tòa, phiên họp, phát biểu quan điểm giải quyết vụ án, yêu cầu, kiến nghị tòa án, kiểm sát đối với người tham gia tố tụng và có quyền yêu cầu kiến nghị đối với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý nghiêm minh người tham gia tố tụng vi phạm pháp luật; Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của Luật này.
Đề nghị với Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án có vi phạm pháp luật.
- Nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm tra viên (Điều 44) – Điều mới
Khi được phân công, Kiểm tra viên có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
1. Nghiên cứu hồ sơ vụ án, báo cáo kết quả với Kiểm sát viên;
2. Lập hồ sơ kiểm sát vụ án hành chính theo sự phân công của Kiểm sát viên hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát;
3. Giúp Kiểm sát viên kiểm sát việc tuân theo pháp luật theo quy định của Luật này.
4. Chương IV - Người tham gia tố tụng, quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng
Chương này gồm có 13 điều (từ Điều 53 đến Điều 65) quy định về người tham gia tố tụng trên cơ sở kế thừa các quy định của Luật tố tụng hành chính hiện hành; đồng thời, sửa đổi, bổ sung các quy định về quyền và nghĩa vụ của đương sự để bảo đảm thực hiện nguyên tắc tranh tụng trong xét xử; cụ thể là đương sự có quyền tiếp cận chứng cứ; quyền đề nghị Tòa án tổ chức phiên họp và tham gia phiên họp xem xét việc thụ lý, xác minh, thu thập chứng cứ và giải quyết các yêu cầu khác về tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án; đề nghị những vấn đề cần tranh tụng; tham gia tranh tụng tại phiên toà; đề nghị Toà án tổ chức đối chất và tham gia đối chất với nhau hoặc với người làm chứng; sửa đổi, bổ sung quy định về việc uỷ quyền trong trường hợp người bị kiện là cơ quan, tổ chức hoặc người đứng đầu cơ quan, tổ chức để bảo đảm thực hiện tranh tụng cũng như thời gian giải quyết vụ án hành chính; sửa đổi, bổ sung quy định về người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự để giảm bớt thủ tục hành chính, tạo điều kiện cho việc thực hiện tranh tụng cũng như thuận lợi cho các chủ thể tham gia tố tụng bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong các vụ án hành chính; bổ sung nguyên tắc xử lý đối với người tham gia tố tụng vi phạm nghĩa vụ trong tố tụng hành chính mà gây hậu quả nghiêm trọng hoặc cản trở hoạt động tố tụng của Toà án.
Đặc biệt, Luật quy định về Kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng hành chính tại Điều 59 như sau: Khoản 5 “Trường hợp sáp nhập, chia, tách, giải thể, điều chỉnh địa giới hành chính trong một đơn vị hành chính mà đối tượng của quyết định hành chính có sự thay đổi thì cơ quan, tổ chức, cá nhân đã ra quyết định hành chính có trách nhiệm tham gia tố tụng với tư cách là người bị kiện tại Tòa án nơi cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyết định hành chính bị kiện. Cơ quan tiếp nhận đối tượng của quyết định hành chính bị kiện phải tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan”.
Điều 60 quy định về Người đại diện:
+ Khoản 2 “c) Người được Tòa án chỉ định đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi”;
+ Khoản 3 “ Người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng hành chính phải là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, được đương sự hoặc người đại diện theo pháp luật của đương sự ủy quyền bằng văn bản.
Trường hợp hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân tham gia tố tụng hành chính thì các thành viên có thể ủy quyền cho một thành viên hoặc người khác làm đại diện tham gia tố tụng hành chính.
* Lưu ý: Trường hợp người bị kiện là cơ quan, tổ chức hoặc người đứng đầu cơ quan, tổ chức thì người bị kiện chỉ được ủy quyền cho cấp phó của mình đại diện. Người được ủy quyền phải tham gia vào quá trình giải quyết toàn bộ vụ án, thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của người bị kiện theo quy định của Luật này”.
5. Chương V - Các biện pháp khẩn cấp tạm thời
Chương này gồm có 12 điều (từ Điều 66 đến Điều 77) quy định về việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng hành chính. Trong đó, bổ sung các quy định mới về việc chấm dứt việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong các trường hợp tạm đình chỉ, đình chỉ việc giải quyết vụ án của Tòa án để bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc chấm dứt việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong các trường hợp cụ thể.
Một số nội dung của Chương này có liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát như sau:
- Điều 73 khoản 4: Thẩm phán áp dụng hay không áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đều phải thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp biết. Viện kiểm sát có trách nhiệm tiến hành kiểm sát.
- Điều 75 khoản 2: Tòa án phải gửi quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời cho Viện kiểm sát cùng cấp. Viện kiểm sát có trách nhiệm tiến hành kiểm sát.
- Điều 77: Chánh án Tòa án phải xem xét giải quyết kiến nghị của Viện kiểm sát về việc áp dụng hay không áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong thời hạn 03 ngày.
6. Chương VI - Chứng minh và chứng cứ
Chương này gồm có 21 điều (từ Điều 78 đến Điều 98) quy định các vấn đề liên quan đến chứng minh, chứng cứ trong tố tụng hành chính. Trong đó, sửa đổi, bổ sung quy định về nghĩa vụ, thời hạn giao nộp chứng cứ; quyền tiếp cận, trao đổi chứng cứ của đương sự; về xác minh, thu thập chứng cứ, về trưng cầu giám định, định giá, thẩm định giá tài sản nhằm bảo đảm để các bên thực hiện quyền tranh tụng và trách nhiệm của Toà án trong việc thu thập, đánh giá chứng cứ bảo đảm giải quyết vụ án khách quan, chính xác, đúng pháp luật.
- Trong Chương này có Điều 98 là Điều mới quy định về quyền tiếp cận, trao đổi tài liệu, chứng cứ như sau:
1. Đương sự có quyền được biết, ghi chép, sao chụp, trao đổi tài liệu, chứng cứ do đương sự khác giao nộp cho Tòa án hoặc do Tòa án thu thập được, trừ tài liệu, chứng cứ quy định tại khoản 2 Điều 96 của Luật này.
2. Khi đương sự giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án thì trong thời hạn 05 ngày làm việc họ phải thông báo cho đương sự khác biết về việc họ đã giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án để đương sự khác liên hệ với Tòa án thực hiện quyền tiếp cận tài liệu, chứng cứ quy định tại khoản 1 Điều này.
3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án thu thập được tài liệu, chứng cứ thì Tòa án phải thông báo cho đương sự biết để họ thực hiện quyền tiếp cận tài liệu, chứng cứ quy định tại khoản 1 Điều này.
- Những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh (Điều 79):
+ Khoản 1 “....trường hợp có nghi ngờ về tính xác thực của tình tiết, sự kiện trong văn bản này thì Thẩm phán có thể yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đã cung cấp, giao nộp văn bản xuất trình văn bản gốc, bản chính”;
+ Khoản 2 “ Đương sự có người đại diện tham gia tố tụng thì sự thừa nhận hoặc không phản đối của người đại diện được coi là sự thừa nhận của đương sự nếu không vượt quá phạm vi đại diện”.
- Nguồn chứng cứ (Điều 81) được bổ sung thêm 2 nguồn so với Luật 2010:
+ “Văn bản xác nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có chức năng lập”; (Khoản 8)
+ “Văn bản công chứng, chứng thực”.( Khoản 9)
- Xác định chứng cứ (Điều 82): Ngoài các quy định như Điều 76 Luật TTHC 2010, Luật TTHC 2015 còn quy định
+ Khoản 3 “Thông điệp dữ liệu điện tử được thể hiện dưới hình thức trao đổi dữ liệu điện tử, chứng từ điện tử, thư điện tử, điện tín, điện báo, fax và các hình thức tương tự khác theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử”;
+ Khoản 9 “Văn bản xác nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có chức năng lập tại chỗ được coi là chứng cứ nếu việc lập văn bản xác nhận sự kiện, hành vi pháp lý được tiến hành theo thủ tục do pháp luật quy định”;
+ Khoản 10 “Các nguồn khác theo quy định của pháp luật được xác định là chứng cứ”.
- Giao nộp tài liệu, chứng cứ (Điều 83) có một số quy định mới như:
+ Khoản 1 “...nếu đương sự không nộp hoặc nộp không đầy đủ tài liệu, chứng cứ do Tòa án yêu cầu mà không có lý do chính đáng thì Tòa án căn cứ vào tài liệu, chứng cứ mà đương sự đã giao nộp và Tòa án đã thu thập theo quy định tại khoản 2 Điều 84 của Luật này để giải quyết vụ án”
+ Khoản 4 “Thời gian giao nộp tài liệu, chứng cứ do Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án ấn định nhưng không được quá thời hạn chuẩn bị xét xử theo thủ tục sơ thẩm quy định tại Điều 130 của Luật này”.
+ Khoản 5 “Trường hợp tài liệu, chứng cứ đã được giao nộp chưa bảo đảm đủ cơ sở để giải quyết vụ án thì Thẩm phán yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ”.
+ Khoản 6 “Trường hợp đương sự không thể tự mình thu thập được tài liệu, chứng cứ và có yêu cầu hoặc xét thấy cần thiết, Tòa án có thể tự mình hoặc ủy thác tiến hành xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ để làm rõ các tình tiết của vụ án”.
- Xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ (Điều 84):
+ Khoản 1 quy định những biện pháp thu thập chứng cứ mà đương sự có quyền tự mình thực hiện;
+ Khoản 4 “Trong giai đoạn giám đốc thẩm, tái thẩm, Thẩm tra viên có thể tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ quy định tại điểm a và điểm g khoản 2 Điều này.
Khi Thẩm tra viên tiến hành biện pháp quy định tại điểm g khoản 2 Điều này, Tòa án phải ra quyết định, trong đó nêu rõ lý do và yêu cầu của Tòa án”.
+ Khoản 5 “Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày thu thập được tài liệu, chứng cứ, Tòa án phải thông báo cho các đương sự để họ thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình”
+ Khoản 6 “...Trường hợp kháng nghị bản án hoặc quyết định của Tòa án theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm thì Viện kiểm sát có thể xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ để bảo đảm cho việc kháng nghị”.
- Xem xét, thẩm định tại chỗ (Điều 88):
Bổ sung thêm thành phần tham gia xem xét, thẩm định tại chỗ gồm Thẩm phán, đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã, công an xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi có đối tượng cần xem xét, thẩm định; phải báo trước việc xem xét, thẩm định tại chỗ để đương sự biết và chứng kiến việc xem xét, thẩm định đó.
- Trưng cầu giám định, yêu cầu giám định (Điều 89):
“5. Việc giám định lại được thực hiện trong trường hợp có căn cứ cho rằng kết luận giám định lần đầu không chính xác, có vi phạm pháp luật hoặc trong trường hợp đặc biệt theo quyết định của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao theo quy định của Luật giám định tư pháp”.
- Trưng cầu giám định chứng cứ bị tố cáo là giả mạo (Điều 90):
Khoản 3 “Người đưa ra chứng cứ được kết luận là giả mạo phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật nếu việc giả mạo chứng cứ đó gây thiệt hại cho người khác và phải chịu chi phí giám định nếu Tòa án quyết định trưng cầu giám định”.
- Ủy thác thu thập tài liệu, chứng cứ (Điều 92):
Khoản 5 “Trường hợp không thực hiện được việc ủy thác theo quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều này hoặc đã thực hiện việc ủy thác nhưng không nhận được kết quả trả lời thì Tòa án giải quyết vụ án trên cơ sở chứng cứ đã có trong hồ sơ vụ án”.
- Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, chứng cứ (Điều 93):
+ Khoản 3 “...Việc xử lý trách nhiệm đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân không phải là lý do miễn nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án”;
+ Khoản 4 “Trường hợp Viện kiểm sát có yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ thì cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều này”.
7. Chương VII - Cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng
Chương này gồm có 12 điều (từ Điều 99 đến Điều 110) quy định nghĩa vụ, thủ tục cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng trên cơ sở kế thừa các quy định của Luật tố tụng hành chính hiện hành; đồng thời, bổ sung phương thức tống đạt văn bản tố tụng theo hợp đồng dịch vụ tống đạt.
- Các văn bản tố tụng phải được cấp, tống đạt hoặc thông báo (Điều 100):
Khoản 3 “Quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát; văn bản của cơ quan thi hành án dân sự”.
- Những người thực hiện việc cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng (Điều 101):
+ Khoản 1 “Người tiến hành tố tụng, người của cơ quan ban hành văn bản tố tụng được giao nhiệm vụ thực hiện việc cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng”.
+ Khoản 2 “Người có chức năng tống đạt”.
- Thủ tục cấp, tống đạt hoặc thông báo trực tiếp cho cá nhân (Điều 106):
+ Khoản 4 “Trường hợp người được cấp, tống đạt hoặc thông báo vắng mặt thì người thực hiện việc cấp, tống đạt hoặc thông báo giao cho người thân thích có đủ năng lực hành vi dân sự cùng nơi cư trú với họ hoặc tổ trưởng tổ dân phố để thực hiện việc ký nhận và yêu cầu người này cam kết giao lại tận tay ngay cho người được cấp, tống đạt hoặc thông báo.
Trường hợp người được cấp, tống đạt hoặc thông báo vắng mặt mà không rõ thời điểm trở về hoặc không rõ địa chỉ thì người thực hiện việc cấp, tống đạt hoặc thông báo phải lập biên bản về việc không thực hiện được việc cấp, tống đạt hoặc thông báo, có xác nhận của tổ trưởng tổ dân phố hoặc đại diện công an xã, phường, thị trấn; đồng thời, thực hiện thủ tục niêm yết công khai văn bản cần tống đạt theo quy định tại Điều 108 của Luật này”.
- Thủ tục niêm yết công khai (Điều 108): Khoản 2 “Việc niêm yết công khai văn bản tố tụng do Tòa án trực tiếp hoặc ủy quyền cho người có chức năng tống đạt hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đương sự cư trú thực hiện ủy quyền cho người có chức năng tống đạt ”.
Điều 110. Thông báo kết quả việc cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng (sửa Điều 102 Luật TTHC2010)
Trường hợp người thực hiện việc cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng không phải là người tiến hành tố tụng, người của cơ quan ban hành văn bản tố tụng thì người thực hiện phải thông báo ngay bằng văn bản kết quả việc cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng cho Tòa án hoặc cơ quan ban hành văn bản tố tụng đó.
Ngoài ra, Chương này còn bổ sung Điều luật về thủ tục cấp, tống đạt hoặc thông báo bằng phương tiện điện tử (Điều 105)
8. Chương VIII - Phát hiện và kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc huỷ bỏ văn bản pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án hành chính
Chương này gồm có 4 điều (từ Điều 111 đến Điều 114) quy định về thẩm quyền, trình tự kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc huỷ bỏ văn bản pháp luật. Đây là những quy định mới được bổ sung để cụ thể hoá quy định tại khoản 7 Điều 2 của Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 2014, bảo đảm cho Toà án giải quyết vụ án đúng pháp luật, thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân theo đúng quy định của Hiến pháp năm 2013.
9. Chương IX - Khởi kiện, thụ lý vụ án
Chương này gồm có 15 điều (từ Điều 115 đến Điều 129) quy định về quyền khởi kiện vụ án hành chính; thời hiệu khởi kiện; thủ tục khởi kiện; nhận và xem xét đơn khởi kiện; về thụ lý vụ án. Trong đó, bổ sung các quy định về điều kiện khởi kiện, đơn khởi kiện trên cơ sở pháp điển hoá các hướng dẫn thi hành Luật tố tụng hành chính hiện hành và bổ sung quy định mới về mở phiên họp để xem xét, giải quyết khiếu nại của đương sự đối với việc trả lại đơn khởi kiện nhằm công khai, minh bạch hoá việc thụ lý vụ án hành chính của Toà án.
Một số nội dung sửa đổi, bổ sung như:
- Thời hiệu khởi kiện (Điều 116):
Khoản 3 “Trường hợp đương sự khiếu nại theo đúng quy định của pháp luật đến cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại thì thời hiệu khởi kiện được quy định như sau:
a) 01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc quyết định giải quyết khiếu nại lần hai;
b) 01 năm kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật mà cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền không giải quyết và không có văn bản trả lời cho người khiếu nại”.
- Đơn khởi kiện (Điều 118): Khoản 2 “Kèm theo đơn khởi kiện phải có tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm. Trường hợp vì lý do khách quan mà người khởi kiện không thể nộp đầy đủ các tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện thì họ phải nộp tài liệu, chứng cứ hiện có để chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm. Các tài liệu, chứng cứ khác, người khởi kiện phải tự mình bổ sung hoặc bổ sung theo yêu cầu của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án”.
- Gửi đơn khởi kiện đến Tòa án (Điều 119): bổ sung thêm hình thức“Gửi trực tuyến qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có)”. tại Khoản 3.
- Xác định ngày khởi kiện vụ án hành chính (Điều 120):
+ Khoản 1 “Trường hợp người khởi kiện trực tiếp nộp đơn tại Tòa án có thẩm quyền thì ngày khởi kiện là ngày nộp đơn”.
+ Khoản 4 “Trường hợp chuyển vụ án cho Tòa án khác theo quy định tại khoản 1 Điều 34 và khoản 3 Điều 165 của Luật này thì ngày khởi kiện là ngày gửi đơn khởi kiện đến Tòa án đã thụ lý nhưng không đúng thẩm quyền và được xác định theo quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này”.
- Nhận và xem xét đơn khởi kiện (Điều 121):
Khoản 4 “Kết quả xử lý đơn của Thẩm phán quy định tại khoản 3 Điều này phải được thông báo cho người khởi kiện, phải ghi chú vào sổ nhận đơn và thông báo trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có)”.
- Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện (Điều 122):
+ Khoản 1 “Sau khi nhận được đơn khởi kiện, nếu thấy đơn khởi kiện không có đủ các nội dung quy định tại khoản 1 Điều 118 của Luật này thì Thẩm phán thông báo bằng văn bản và nêu rõ những vấn đề cần sửa đổi, bổ sung cho người khởi kiện sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày người khởi kiện nhận được thông báo của Tòa án”.
+ Khoản 2 “Thời gian thực hiện việc sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện không tính vào thời hiệu khởi kiện”.
- Trả lại đơn khởi kiện (Điều 123): Khoản 2 “Đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ mà Thẩm phán trả lại cho người khởi kiện phải được sao lại và lưu tại Tòa án để làm cơ sở giải quyết khiếu nại, kiến nghị khi có yêu cầu”.
- Khiếu nại, kiến nghị và giải quyết khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện (Điều 124):
- Điều 124 quy định mới: “Khi trả đơn khởi kiện, Tòa án phải có văn bản ghi rõ lý do trả lại đơn khởi kiện. Văn bản trả lại đơn được gửi ngay cho VKS cùng cấp. Đơn khởi kiện và các tài liệu mà Thẩm phán trả lại cho người khởi kiện phải được sao và lưu tại Tòa án để làm cơ sở cho việc giải quyết khiếu nại, kiến nghị”. Khi có khiếu nại, kiến nghị, Tòa án phải mở phiên họp trong hạn 05 ngày làm việc để xem xét giải quyết khiếu nại, kiến nghị, “ phiên họp xem xét, giải quyết khiếu nại, kiến nghị có sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát cùng cấp.. căn cứ tài liệu, chứng cứ có liên quan đến trả lại đơn khởi kện, ý kiến của Viện kiểm sát và đương sự tại phiên họp, thẩm phán phải ra một trong các quyết định: giữ nguyên việc trả lại đơn khởi kện và thông báo cho đương sự, Viện kiểm sát; Nhận lại đơn khởi kiện..” (khoản 3,4 Điều 124).
- Thụ lý vụ án (Điều 125): bổ sung thêm quy định:
3. Trường hợp hết thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này mà người khởi kiện mới nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí thì giải quyết như sau:
a) Trường hợp chưa trả lại đơn khởi kiện thì Thẩm phán tiến hành thụ lý vụ án;
b) Trường hợp đã trả lại đơn khởi kiện mà người khởi kiện chứng minh được là họ đã nộp tiền tạm ứng án phí đúng thời hạn quy định, nhưng vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên họ nộp biên lai thu tiền tạm ứng án phí cho Tòa án không đúng hạn thì Thẩm phán yêu cầu họ nộp lại đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ kèm theo và tiến hành thụ lý vụ án; trường hợp này ngày khởi kiện là ngày nộp đơn khởi kiện lần đầu;
c) Trường hợp sau khi Thẩm phán trả lại đơn khởi kiện, người khởi kiện mới nộp tiền tạm ứng án phí và nộp biên lai thu tiền tạm ứng án phí cho Tòa án, nếu không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì Thẩm phán yêu cầu họ nộp lại đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ kèm theo để tiến hành thụ lý vụ án; trường hợp này ngày khởi kiện là ngày nộp lại đơn khởi kiện.
4. Trường hợp hết thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này mà người khởi kiện không nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí thì Tòa án thông báo cho họ biết về việc không thụ lý vụ án với lý do là họ không nộp tiền tạm ứng án phí. Trường hợp này, người khởi kiện có quyền nộp đơn khởi kiện lại nếu thời hiệu khởi kiện vẫn còn.
- Thông báo về việc thụ lý vụ án (Điều 126):
“1. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán đã thụ lý vụ án phải thông báo bằng văn bản cho người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ án và Viện kiểm sát cùng cấp về việc Tòa án đã thụ lý vụ án và công bố trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có).
- Phân công Thẩm phán giải quyết vụ án (Điều 127):
Khoản 1 “Trên cơ sở báo cáo thụ lý vụ án của Thẩm phán được phân công thụ lý vụ án, Chánh án Tòa án quyết định phân công Thẩm phán giải quyết vụ án bảo đảm đúng nguyên tắc vô tư, khách quan, ngẫu nhiên”.
Ngoài ra, Chương này được bổ sung Điều mới về thủ tục khởi kiện (Điều 117) (Còn nữa)
Phạm Duy Hiển - Trưởng phòng 10
Viện kiểm sát nhân dân thành phố