14. Chương XIV - Thủ tục rút gọn
Chương này gồm 6 điều (từ Điều 245 đến Điều 250) - Quy định về phạm vi, điều kiện, trình tự, thủ tục, thành phần của Hội đồng xét xử, thời gian giải quyết (bao gồm cả hai cấp tòa án sơ thẩm và phúc thẩm)
- Kiểm sát tại phiên tòa sơ thẩm theo thủ tục rút gọn (Điều 249): Khi Thẩm phán tiến hành đối thoại tại phiên tòa không thành thì tiến hành xét xử theo thủ tục thông thường quy định tại mục 3 Chương XI của Luật TTHC – như phiên tòa sơ thẩm thông thường.
- Kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm rút gọn (Điều 253 khoản 5): Sau khi kết thúc việc tranh luận và đối đáp, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án hành chính ở giai đoạn phúc thẩm.
- Phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn (Điều 245)
1. Thủ tục rút gọn trong tố tụng hành chính là thủ tục giải quyết vụ án hành chính khi có các điều kiện theo quy định của Luật này nhằm rút ngắn về thời gian và thủ tục so với thủ tục giải quyết vụ án hành chính thông thường nhưng vẫn bảo đảm giải quyết vụ án đúng pháp luật.
2. Tòa án áp dụng những quy định của Chương này, đồng thời áp dụng những quy định khác của Luật này không trái với những quy định của Chương này để giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn.
3. Trường hợp luật khác có quy định về khiếu kiện hành chính áp dụng thủ tục rút gọn thì thực hiện theo quy định của Luật này.
- Điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn (Điều 246)
1. Vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Vụ án có tình tiết đơn giản, tài liệu, chứng cứ đầy đủ, rõ ràng, bảo đảm đủ căn cứ giải quyết vụ án và Tòa án không phải thu thập tài liệu, chứng cứ;
b) Các đương sự đều có địa chỉ nơi cư trú, trụ sở rõ ràng;
c) Không có đương sự cư trú ở nước ngoài, trừ trường hợp đương sự ở nước ngoài có thỏa thuận với đương sự ở Việt Nam đề nghị Tòa án giải quyết theo thủ tục rút gọn.
2. Trong quá trình giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn, Tòa án ra quyết định chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục thông thường nếu thuộc một trong những trường hợp sau đây:
a) Phát sinh các tình tiết mới mà các đương sự không thống nhất và cần phải xác minh, thu thập thêm tài liệu, chứng cứ hoặc cần phải tiến hành giám định;
b) Cần phải định giá tài sản nếu các đương sự không thống nhất về giá;
c) Cần phải áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;
d) Phát sinh người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
đ) Phát sinh yêu cầu độc lập;
e) Phát sinh đương sự cư trú ở nước ngoài mà cần phải thực hiện ủy thác tư pháp, trừ trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều này.
3. Trường hợp chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục thông thường thì thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án được tính lại kể từ ngày ra quyết định chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục thông thường.
- Phiên tòa theo thủ tục rút gọn (Điều 249)
1. Việc xét xử sơ thẩm vụ án hành chính theo thủ tục rút gọn do một Thẩm phán thực hiện.
2. Thẩm phán tiến hành thủ tục khai mạc phiên tòa theo quy định tại
Điều 169 của Luật này.
3. Sau khi khai mạc phiên tòa, Thẩm phán tiến hành đối thoại, trừ trường hợp không tiến hành đối thoại được theo quy định tại Điều 135 của Luật này. Trường hợp đương sự thống nhất được với nhau về việc giải quyết vụ án thì Thẩm phán lập biên bản đối thoại thành và ra quyết định công nhận kết quả đối thoại thành theo quy định tại Điều 140 của Luật này. Trường hợp đương sự không thống nhất được với nhau về việc giải quyết vụ án thì Thẩm phán tiến hành xét xử.
Việc trình bày, tranh luận, đối đáp, đề xuất quan điểm về việc giải quyết vụ án được thực hiện theo quy định tại Mục 3 Chương XI của Luật này.
4. Trường hợp tại phiên tòa mà phát sinh tình tiết mới quy định tại khoản 2 Điều 246 của Luật này làm cho vụ án không còn đủ điều kiện để áp dụng thủ tục rút gọn thì Thẩm phán xem xét, quyết định chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục thông thường và thời hạn chuẩn bị xét xử được tính lại theo quy định tại khoản 3 Điều 246 của Luật này.
- Hiệu lực của bản án, quyết định theo thủ tục rút gọn (Điều 250)
1. Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án theo thủ tục rút gọn có thể bị kháng cáo, kháng nghị để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết lại theo thủ tục rút gọn phúc thẩm.
2. Bản án, quyết định theo thủ tục rút gọn có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm theo quy định của Luật này.
- Thời hạn kháng cáo, kháng nghị đối với bản án, quyết định theo thủ tục rút gọn (Điều 251)
1. Thời hạn kháng cáo đối với bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm theo thủ tục rút gọn là 07 ngày kể từ ngày tuyên án. Trường hợp đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án, quyết định được giao cho họ hoặc được niêm yết.
2. Thời hạn kháng nghị đối với bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm theo thủ tục rút gọn của Viện kiểm sát cùng cấp là 07 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 10 ngày kể từ ngày nhận được bản án, quyết định
1. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày thụ lý vụ án, tùy từng trường hợp, Tòa án cấp phúc thẩm ra một trong các quyết định sau đây:
a) Tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án;
b) Đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án;
c) Đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm.
...
3. Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm phải được gửi cho những người có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị và Viện kiểm sát cùng cấp kèm theo hồ sơ vụ án. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát nghiên cứu và trả lại hồ sơ vụ án cho Tòa án.
Trường hợp Tòa án ra quyết định chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục thông thường theo quy định tại khoản 2 Điều 246 của Luật này thì thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án được tính theo quy định tại khoản 3 Điều 246 của Luật này.
4. Trường hợp có quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án thì thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm được tính lại kể từ ngày quyết định hủy bỏ, quyết định tạm đình chỉ vụ án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Như vậy, nếu xét xử phúc thẩm theo thủ tục rút gọn thì VKS chỉ có 05 ngày để nghiên cứu hồ sơ vụ án thay vì 15 ngày như thủ tục thông thường.
- Thủ tục phúc thẩm đối với bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết theo thủ tục rút gọn bị kháng cáo, kháng nghị (Điều 253)
1. Việc xét xử phúc thẩm vụ án hành chính theo thủ tục rút gọn do một Thẩm phán thực hiện. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán phải mở phiên tòa phúc thẩm.
2. Phiên tòa có mặt các đương sự, Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp. Trường hợp Kiểm sát viên vắng mặt thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử, trừ trường hợp Viện kiểm sát có kháng nghị phúc thẩm.
Trường hợp đương sự đã được triệu tập hợp lệ mà vắng mặt không có lý do chính đáng hoặc đã có đơn xin xét xử vắng mặt thì Thẩm phán vẫn tiến hành phiên tòa.
3. Thẩm phán trình bày tóm tắt nội dung bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị, nội dung của kháng cáo, kháng nghị và tài liệu, chứng cứ kèm theo (nếu có).
4. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trình bày, đương sự bổ sung ý kiến về nội dung kháng cáo, kháng nghị, tranh luận, đối đáp, đề xuất quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án.
5. Sau khi kết thúc việc tranh luận và đối đáp, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án hành chính ở giai đoạn phúc thẩm.
6. Khi xem xét bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị, Thẩm phán có các quyền sau đây:
a) Giữ nguyên bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm;
b) Sửa bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm;
c) Hủy bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm để giải quyết lại vụ án theo thủ tục rút gọn hoặc theo thủ tục thông thường nếu không còn đủ các điều kiện giải quyết theo thủ tục rút gọn;
d) Hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án;
đ) Đình chỉ xét xử phúc thẩm và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
7. Bản án, quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra bản án, quyết định.
15. Chương XV - Thủ tục giám đốc thẩm
Chương này gồm 29 điều (từ Điều 251 đến Điều 279) quy định về thủ tục giám đốc thẩm trên cơ sở kế thừa các quy định của Luật tố tụng hành chính và các văn bản hướng dẫn hiện hành; đồng thời, sửa đổi, bổ sung các quy định về căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, về thủ tục nhận và xem xét, giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm; về thu thập, bổ sung tài liệu, chứng cứ trong thủ tục giám đốc thẩm để thực hiện nguyên tắc tranh tụng trong giai đoạn giám đốc thẩm; về người có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm để phù hợp với quy định mới của Luật tổ chức Toà án nhân dân và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014; bổ sung quy định về thẩm quyền và việc tổ chức xét xử giám đốc thẩm của Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao, Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao theo quy định của Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 2014; bổ sung quy định mới về thẩm quyền của Hội đồng giám đốc thẩm sửa một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
16. Chương XVI - Thủ tục tái thẩm
Chương này gồm 7 điều (từ Điều 280 đến Điều 286) quy định về thủ tục tái thẩm trên cơ sở kế thừa các quy định của Luật tố tụng hành chính hiện hành; đồng thời, sửa đổi, bổ sung về người có quyền kháng nghị tái thẩm để phù hợp với các quy định của Luật tổ chức Tòa án nhân dân và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014.
17. Chương XVII - Thủ tục đặc biệt xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
Chương này gồm 11 điều (từ Điều 287 đến Điều 297) quy định về thủ tục đặc biệt xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao trên cơ sở pháp điển hoá hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền về thủ tục đặc biệt xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao của Luật tố tụng hành chính hiện hành.
18. Chương XVIII - Thủ tục giải quyết vụ án hành chính có yếu tố nước ngoài (mới)
Chương này gồm 11 điều (từ Điều 298 đến Điều 308) quy định những vấn đề đặc thù về thủ tục giải quyết vụ án hành chính có yếu tố nước ngoài nhằm giải quyết những khó khăn, vướng mắc hiện nay trong việc giải quyết các vụ án hành chính có yếu tố nước ngoài, bảo đảm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người Việt Nam ở nước ngoài và các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư tại Việt Nam.
- Làm rõ thêm căn cứ xác định vụ án hành chính có yếu tố nước ngoài, như là:
+ Đương sự là người nước ngoài, cơ quan, tổ chức nước ngoài, chi nhánh, văn phòng đại diện của cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế, cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế tại Việt Nam
+ Công dân Việt Nam cư trú tại nước ngoài
- Quy định về trình tự, thủ tục giải quyết vụ án hành chính có yếu tố nước ngoài
19. Chương XIX - Thủ tục thi hành bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính
Chương này gồm 7 điều (từ Điều 309 đến Điều 315) quy định về thủ tục thi hành bản án, quyết định của Toà án về vụ án hành chính trên cơ sở kế thừa các quy định của Luật tố tụng hành chính hiện hành, đồng thời, sửa đổi, bổ sung quy định về việc Toà án có thẩm quyền ra quyết định buộc thi hành án hành chính; Thủ trưởng cơ quan cấp trên trực tiếp của người phải thi hành án có trách nhiệm kiểm tra, đôn đốc và xử lý trách nhiệm người phải thi hành án theo quy định của pháp luật nhằm tháo gỡ khó khăn, bất cập trong việc thi hành án hành chính; đồng thời, bổ sung quy định giao cho Chính phủ quy định cụ thể về trình tự, thủ tục thi hành án hành chính và xử lý trách nhiệm đối với người không thi hành bản án, quyết định của Tòa án để bảo đảm hiệu quả trong công tác thi hành án hành chính.
20. Chương XX - Xử lý các hành vi cản trở hoạt động tố tụng hành chính (mới)
Chương này gồm có 11 điều (từ Điều 316 đến Điều 326) quy định về việc xử lý các hành vi cản trở hoạt động tố tụng trong việc giải quyết các vụ án hành chính.
- Xác định hành vi cản trở hoạt động tố tụng hành chính:
+ Hành vi cản trở việc xác minh, thu thập chứng cứ
+ Hành vi cố ý không chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án
+ Hành vi xúc phạm uy tín, danh dự của người tiến hành tố tụng…
+ Hành vi vi phạm nội quy phiên tòa…
Tuy nhiên, không áp dụng biện pháp xử phạt của Tòa án mà áp dụng theo quy định của Luật tố tụng hành chính
Đây là Chương mới được bổ sung để tạo cơ sở pháp lý cho việc quy định trình tự, thủ tục, thẩm quyền, mức tiền phạt đối với các hành vi cản trở hoạt động tố tụng hành chính nhằm xử lý nghiêm minh các hành vi cản trở hoạt động tố tụng hành chính, tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong tố tụng hành chính, giáo dục mọi người chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, phòng ngừa những vi phạm có thể xảy ra, nâng cao uy tín của Toà án, bảo đảm sự tôn nghiêm của Toà án, sự tôn trọng của cá nhân, cơ quan, tổ chức đối với Toà án, tạo điều kiện để Toà án giải quyết các vụ án hành chính nhanh chóng, hiệu quả, đúng pháp luật.
21. Chương XXI - Khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hành chính
Chương này gồm 17 điều (từ Điều 327 đến Điều 343) chủ yếu kế thừa các quy định của Luật tố tụng hành chính hiện hành về thủ tục, thẩm quyền và thời hạn giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hành chính.
22. Chương XXII - Phí, lệ phí và các chi phí tố tụng (mới)
Chương này gồm 27 điều (Điều 344 đến Điều 370) quy định hai nhóm vấn đề về án phí, lệ phí và chi phí tố tụng khác.
Nội dung Chương này được xác định rõ ở 2 mục:
- Về án phí, lệ phí, tạm ứng án phí
- Chi phí tố tụng khác: chi phí ủy thác tư pháp, chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, chi phí giám định, chi phí định giá tài sản, chi phí cho người làm chứng, người phiên dịch.
23. Chương XXIII - Điều khoản thi hành
Chương này gồm 2 điều (Điều 371 và Điều 372) quy định hiệu lực thi hành và trách nhiệm quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành.
II. NGHỊ QUYẾT CỦA QUỐC HỘI SỐ 104/2015/QH13 NGÀY 25/11/2015 VỀ VIỆC THI HÀNH LUẬT TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH:
- Hiệu lực thi hành (Điều 1):
Kể từ ngày Luật tố tụng hành chính số 93/2015/QH13 có hiệu lực thi hành (ngày 01 tháng 7 năm 2016):
1. Đối với những vụ án hành chính đã được Toà án thụ lý trước ngày 01 tháng 7 năm 2016, nhưng kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2016 mới xét xử theo thủ tục sơ thẩm thì áp dụng quy định của Luật này để giải quyết;
2. Đối với những vụ án hành chính đã được Tòa án xét xử theo thủ tục sơ thẩm trước ngày 01 tháng 7 năm 2016 mà có kháng cáo, kháng nghị, nhưng kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2016 mới xét xử theo thủ tục phúc thẩm thì áp dụng quy định của Luật này để giải quyết;
3. Đối với những bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật mà bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm trước ngày 01 tháng 7 năm 2016 nhưng kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2016 mới xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm thì áp dụng quy định của Luật này để giải quyết;
4. Đối với những bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật trước ngày 01 tháng 7 năm 2016 mà kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2016 người có thẩm quyền kháng nghị mới kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm thì căn cứ để thực hiện việc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm và việc xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm được thực hiện theo quy định của Luật này;
5. Đối với những khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân cấp huyện, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện đã được Tòa án nhân dân cấp huyện thụ lý giải quyết trước ngày 01 tháng 7 năm 2016 thì Tòa án đã thụ lý tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung mà không chuyển cho Tòa án nhân dân cấp tỉnh giải quyết;
6. Khi giải quyết các vụ án hành chính, Tòa án tiếp tục áp dụng các quy định của các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành về án phí, lệ phí Tòa án, chi phí tố tụng khác cho đến khi có quy định mới của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Đối với vụ án hành chính được giải quyết theo thủ tục rút gọn thì mức án phí thấp hơn mức án phí áp dụng đối với vụ án hành chính được giải quyết theo thủ tục thông thường.
- Thời hiệu áp dụng (Điều 2)
Các vụ án hành chính phát sinh trước ngày 01 tháng 7 năm 2016 thì áp dụng thời hiệu quy định tại Điều 104 của Luật tố tụng hành chính số 64/2010/QH12.
Đối với các vụ án hành chính phát sinh kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2016, thì áp dụng thời hiệu quy định tại Điều 116 của Luật tố tụng hành chính số 93/2015/QH13.
III. NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT TRONG TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH THEO LUẬT TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH 2015
1. Vị trí, vai trò (nhiệm vụ, quyền hạn chung) của VKSND
1.1. Là cơ quan tiến hành và người tiến hành tố tụng hành chính (Điều 36): Luật TTHC không những tiếp tục khẳng định vai trò của VKSND mà còn được tăng cường như: Tiếp tục khẳng định Viện kiểm sát là cơ quan tiến hành tố tụng; người tiến hành tố tụng trong ngành kiểm sát, ngoài Viện trưởng, Kiểm sát viên, còn bổ sung mới là Kiểm tra viên.
1.2. Là người tiến hành tố tụng hành chính (Điều 36)
- Viện trưởng (khoản 4 Điều 36)
- Kiểm sát viên (khoản 4 Điều 36)
- Kiểm tra viên (khoản 4 Điều 36).
2. Nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của Viện kiểm sát
2.1. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật (Điều 25 – khoản 1, khoản 2)
2.1.1. Kiểm sát trả lại đơn khởi kiện (Điều 123, Điều 124):
- Điều 123 khoản 2 quy định: Khi trả lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo cho người khởi kiện, Thẩm phán phải có văn bản ghi rõ lý do trả lại đơn khởi kiện. Văn bản trả lại đơn khởi kiện được trả lại ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp.
- Điều 124 quy định mới: “Khi trả đơn khởi kiện, Tòa án phải có văn bản ghi rõ lý do trả lại đơn khởi kiện. Văn bản trả lại đơn được gửi ngay cho VKS cùng cấp. Đơn khởi kiện và các tài liệu mà Thẩm phán trả lại cho người khởi kiện phải được sao và lưu tại Tòa án để làm cơ sở cho việc giải quyết khiếu nại, kiến nghị”. Khi có khiếu nại, kiến nghị, Tòa án phải mở phiên họp trong hạn 05 ngày làm việc để xem xét giải quyết khiếu nại, kiến nghị, “ phiên họp xem xét, giải quyết khiếu nại, kiến nghị có sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát cùng cấp.. căn cứ tài liệu, chứng cứ có liên quan đến trả lại đơn khởi kện, ý kiến của Viện kiểm sát và đương sự tại phiên họp, thẩm phán phải ra một trong các quyết định: giữ nguyên việc trả lại đơn khởi kện và thông báo cho đương sự, Viện kiểm sát; Nhận lại đơn khởi kiện..” (khoản 3,4 Điều 124).
Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kiến nghị lần thứ hai đến Chánh án TAND cấp trên trực tiếp để xem xét, quyết định lần cuối.
2.1.2. Kiểm sát việc thụ lý (Điều 126 và Điều 128):
- Điều 126 quy định: Tòa án phải gửi thông báo về thụ lý vụ án cho VKSND cùng cấp.
- Điều 128 quy định: sau khi nhận được văn bản thông báo việc thụ lý vụ án, Viện kiểm sát phải vào sổ thụ lý vụ án hành chính và phân công Kiểm sát viên kiểm sát quá trình giải quyết vụ án của Tòa án, cụ thể xem xét các vấn đề sau:
+ Xem xét đối tượng khởi kiện có phải là quyết định hành chính hay hành vi hành chính không?
+ Xem xét đơn kiện để xác định người khởi kiện có quyền khởi kiện, đủ điều kiện khởi kiện theo Điều 115 Luật TTHC hay không?
+ Thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Để xác định thẩm quyền giải quyết của Tòa án, Kiểm sát viên căn cứ vào các quy định tại Điều 28 Luật TTHC để xác định vụ việc có thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án hay không?
+ Xác định thời hiệu khởi kiện: Kiểm sát viên căn cứ vào Điều 116 của Luật TTHC để xem xét thời hiệu khởi kiện còn hay hết.
2.1.3. Kiểm sát việc thu thập chứng cứ (Điều 84 - khoản 6)
- Điều 84 khoản 6, Viện kiểm sát có quyền yêu cầu Toà án xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án.
- Viện kiểm sát trực tiếp thu thập chứng cứ:
+ Điều 84 khoản 6: Trường hợp kháng nghị bản án, quyết định của Toà án theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm thì Viện kiểm sát có thể tự mình thu thập hồ sơ, tài liệu, vật chứng trong quá trình giải quyết vụ án.
+ Điều 93 khoản 4: Viện kiểm sát có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, chứng cứ.
2.1.4. Kiểm sát áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời (Điều 73, Điều 75, Điều 76, Điều 77)
- Điều 73 khoản 4: Thẩm phán áp dụng hay không áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đều phải thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp biết. Viện kiểm sát có trách nhiệm tiến hành kiểm sát.
- Điều 75 khoản 2: Tòa án phải gửi quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời cho Viện kiểm sát cùng cấp. Viện kiểm sát có trách nhiệm tiến hành kiểm sát.
- Điều 77: Chánh án Tòa án phải xem xét giải quyết kiến nghị của Viện kiểm sát về việc áp dụng hay không áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong thời hạn 03 ngày.
2.1.5. Kiểm sát việc tạm đình chỉ giải quyết vụ án (Điều 141):
Khoản 2 Điều 141: Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Như vậy, Viện kiểm sát có trách nhiệm kiểm sát quyết định tạm đình chỉ, nếu phát hiện vi phạm nghiêm trọng thì phải ban hành kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
2.1.6. Kiểm sát việc đình chỉ giải quyết vụ án (Điều 143):
Điều 143 khoản 4: Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Như vậy, Viện kiểm sát có trách nhiệm kiểm sát quyết định đình chỉ, nếu phát hiện vi phạm nghiêm trọng thì phải ban hành kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
2.1.7. Kiểm sát sau khi Tòa án tiến hành tổ chức Đối thoại (Điều 140):
Trong trường hợp Thẩm phán ra quyết định công nhận kết quả đối thoại thành, đình chỉ việc giải quyết vụ án thì phải gửi ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp. Quyết định này có hiệu lực thi hành ngay và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm; trường hợp có căn cứ cho rằng nội dung các bên đã thống nhất và cam kết là do bị nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa hoặc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội thì quyết định của Tòa án có thể được xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm.
2.1.8. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và chấp hành pháp luật của các đương sự tại phiên tòa (Điều 190, Điều 240, Điều 270):
- Điều 190: Viện kiểm sát có quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của các đương sự tại phiên tòa sơ thẩm.
- Điều 240 – tại phiên tòa phúc thẩm
- Điều 270 – tại phiên tòa giám đốc thẩm.
* Bên cạnh thủ tục thông thường còn giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn:
- Kiểm sát tại phiên tòa sơ thẩm theo thủ tục rút gọn (Điều 249): Khi Thẩm phán tiến hành đối thoại tại phiên tòa không thành thì tiến hành xét xử theo thủ tục thông thường quy định tại mục 3 Chương XI của Luật TTHC – như phiên tòa sơ thẩm thông thường.
- Kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm rút gọn (Điều 253 khoản 5): Sau khi kết thúc việc tranh luận và đối đáp, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án hành chính ở giai đoạn phúc thẩm.
2.1.9. Phát biểu quan điểm giải quyết vụ án (Điều 190, Điều 240, Điều 270, Điều 249, Điều 253):
Theo quy định của Luật TTHC, cũng như Luật sửa đổi bổ sung Luật TTHC, VKS tham gia tất cả các phiên tòa, phiên họp sơ thẩm, phúc thẩm, các phiên họp giám đốc thẩm, tái thẩm. Tuy nhiên theo quy định của Luật TTHC năm 2010 khi viện kiểm sát không tham gia phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm thì Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa, nay theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật TTHC thì khi Kiểm sát viên không tham gia phiên tòa thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử, trừ trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, quy định này nhằm nâng cao trách nhiệm của Viện kiểm sát, đồng thời đảm bảo cho việc giải quyết vụ án được nhanh chóng, kịp thời, cụ thể là:
- Tại phiên tòa sơ thẩm (Điều 190): Tại các phiên tòa, phiên họp ở giai đoạn sơ thẩm, Kiểm sát viên ngoài phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và của người tham gia tố tụng hành chính trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án còn phát biểu về việc giải quyết vụ án (tức quan điểm giải quyết vụ án). Như vậy so với Luật TTHC năm 2010, Luật sửa đổi, bổ sung Luật TTHC mở rộng quyền cho Viện kiểm sát được phát biểu quan điểm về giải quyết vụ án.
- Tại phiên tòa phúc thẩm (Điều 240): Tại phiên tòa phúc thẩm, Kiểm sát viên trình bày về nội dung kháng nghị và các căn cứ của việc kháng nghị, phát biểu ý kiến về những vấn đề mà người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, đương sự đã nêu, phát biểu ý kiến của VKS về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án hành chính ở giai đoạn phúc thẩm.
Như vậy, quan điểm về việc giải quyết vụ án của Viện kiểm sát được thể hiện trong kháng nghị của Viện kiểm sát và việc đánh giá, nhận xét đối với ý kiến của đương sự và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự.
- Tại phiên tòa giám đốc thẩm và tái thẩm (Điều 270, Điều 286): Đại diện VKS trình bày nội dung kháng nghị trong trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị; phát biểu ý kiến của VKS về quyết định kháng nghị và việc giải quyết vụ án.
Điểm đáng lưu ý là: Luật TTHC năm 2015 quy định về việc: Ngay sau khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm (Điều 190); phúc thẩm (Điều 240); giám đốc thẩm (Điều 270) kiểm sát viên phải gửi văn bản phát biểu ý kiến cho Tòa án để lưu hồ sơ vụ án.
Như vậy, sự tham gia của VKS trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án là một hoạt động quan trọng đảm bảo sự tuân thủ pháp luật của các chủ thể tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng.
2.1.10. Kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án (Điều 194, Điều 242, Điều 277, Điều 286)
- Kiểm sát bản án sơ thẩm (Điều 194)
- Kiểm sát bản án phúc thẩm (Điều 242)
- Kiểm sát quyết định giám đốc thẩm (Điều 277)
- Kiểm sát quyết định tái thẩm (Điều 277, Điều 286)
Điểm đáng lưu ý khi tiến hành kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án thì Kiểm sát viên phải tiến hành xem xét bản án có phản ánh đầy đủ các tình tiết khách quan trong hồ sơ vụ án hay không; việc thu thập, đánh giá chứng cứ, áp dụng pháp luật tố tụng, pháp luật nội dung có đúng hay không; trên cơ sở đó đánh giá quyết định của bản án có căn cứ và đúng quy định pháp luật hay không.
2.2. Thực hiện các quyền của Viện kiểm sát
2.2.1. Thực hiện quyền yêu cầu (Điều 25, Điều 93, Điều 343)
- Yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ (Điều 25 khoản 2; Điều 84 khoản 6)
- Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu chứng cứ (Điều 93 Khoản 4).
- Yêu cầu cá nhân có trách nhiệm để bảo đảm việc giải quyết khiếu nại, tố cáo có căn cứ; đúng pháp luật (Điều 343).
* Điểm lưu ý: Quyền yêu cầu Tòa án chuyển hồ sơ vụ án của Viện kiểm sát được quy định tại Thông tư số 03/2012/TTLT- VKSNDTC- TANDTC ngày 01/8/2012, tuy nhiên chưa được pháp điển hóa.
2.2.2. Thực hiện quyền kiến nghị (Điều 25, Điều 76; Điều 124; Điều 315)
- Kiến nghị UBND cấp phường, xã khởi kiện vụ án hành chính đối với người chưa thành niên và người bị nhược điểm về tâm thần (Điều 25 khoản 3).
- Kiến nghị về trả lại đơn khởi kiện để xem xét, giải quyết khiếu nại, kiến nghị (Điều 124 khoản 1);
- Kiến nghị việc quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời (Điều 76 khoản 1);
- Kiến nghị Tòa án về việc quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn (Điều 248 khoản 1)
- Kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý nghiêm minh người tham gia tố tụng vi phạm pháp luật (Điều 43 khoản 8);
- Kiến nghị cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp của Cơ quan, tổ chức phải chấp hành bản án, quyết định của Tòa án để có biện pháp thi hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định của Tòa án (Điều 315).
- Kiến nghị đối với Tòa án cùng cấp và cấp dưới, cơ quan, tổ chức và cá nhân có trách nhiệm để bảo đảm việc giải quyết khiếu nại, tố cáo có căn cứ; đúng pháp luật (Điều 343).
- Kiến nghị với Chánh án TANDTC xem xét theo thủ tục đặc biệt đối với Quyết định Giám đốc thẩm, tái thẩm của Hội đồng thẩm phán TANDTC (Điều 287).
- Kiến nghị Tòa án khắc phục vi phạm (nói chung) trong quá trình giải quyết các vụ án hành chính (khoản 2 Điều 25).
2.2.3. Thực hiện quyền kháng nghị (Điều 211; Điều 260; Điều 283)
- Quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm (Điều 211 khoản 1):
Đây là quyền năng đặc trưng và quan trọng nhất của VKS khi thực hiện chức năng kiềm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHC. Theo quy định của Luật sửa đổi bổ sung Luật TTHC, “Viện trưởng VKS cùng cấp và cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án, quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm để yêu cầu Tòa án cấp trên trực tiếp giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm” (Điều 211).
- Kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm (Điều 260 khoản 2):
“Viện trưởng VKSNDTC có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực của Toà án nhân dân cấp cao; những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án khác trừ quyết định của HĐTP Toà án nhân dân tối cao” (Khoản 1 Điều 260). “Viện trưởng VKS cấp cao có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ” (Khoản 2 Điều 260). Đây là quy định mới triển khai thực hiện quy định VKS, Tòa án 4 cấp, trong đó có VKSND cấp cao được giao nhiệm vụ kháng nghị và tham gia phiên tòa giám đốc thẩm của tòa án cùng cấp.
- Kháng nghị theo thủ tục tái thẩm (Điều 283):
“Viện trưởng VKSNDTC có quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm bán án, quyết định đã có hiệu lực của Toà án nhân dân cấp cao; những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án khác khi xét thấy cần thiết, trừ quyết định của HĐTP Toà án nhân dân tối cao” (Khoản 1 Điều 283). “Viện trưởng VKS cấp cao có quyền kháng nghị theo thủ tục tái thấm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ “ (Khoản 2 Điều 283). Đây là quy định mới triển khai thực hiện quy định VKS, Tòa án 4 cấp, trong đó có VKSND cấp cao được giao nhiệm vụ kháng nghị và tham gia phiên tòa giám đốc thẩm của tòa án cùng cấp.
Như vậy, khi bản án, quyết định sơ thẩm có vi phạm pháp luật, cũng như khi bản án quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hay tình tiết mới có thể làm thay đổi bản chất vụ án, VKS sẽ thực hiện quyền kháng nghị để đảm bảo việc xét xử của Tòa án tuân thủ đúng pháp luật, tránh oan sai, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia trong quan hệ pháp luật tố tụng hành chính./.
Phạm Duy Hiển - Trưởng phòng 10
Viện kiểm sát nhân dân thành phố