Một số vấn đề lưu ý khi thục hành quyền công tố, Kiểm sát điều tra, Kiểm sát xét xử các vụ án hình sự phát sinh trong quan hệ vay, mượn, nhận tài sản thông qua hình thức h

     Hải Phòng là Đô thị loại I cấp Quốc gia, là một trong ba đỉnh tam giác vàng của vùng Đông Bắc, có nền kinh tế hàng hóa, dịch vụ phát triển. Hải Phòng cũng là thành phố cảng biển giao thoa với nhiều nền văn hóa khác nhau. Đây cũng là một trong những nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm. 

     Đặc biệt là nhóm tội phạm sở hữu, trực tiếp là các loại tội phạm phát sinh trong các quan hệ vay, mượn, nhận được tài sản thông qua các hình thức hợp đồng. Trong thời gian vừa qua trên địa bàn thành phố liên tiếp xảy ra nhiều vụ việc chiếm đoạt xe ô tô tự lái có giá trị hàng trăm triệu đồng hoặc liên tiếp các vụ “vỡ nợ” lên đến hàng trăm tỉ đồng kéo theo vô số những người dân vào cảnh khốn khó, nợ nần chồng chất. Cũng không ít người lâm vào cảnh “màn trời chiếu đất” do quá cả tin, nể nang cho mượn “bìa đỏ” của gia đình để thế chấp hoặc cho vay lấy lãi... Thông qua việc giải quyết các vụ án này trên địa bàn thành phố Hải Phòng, chúng tôi thấy có một số vấn đề cần lưu ý cũng như một số kiến nghị đề xuất như sau:

     1. Những vấn đề cần lưu ý khi thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử án chiếm đoạt liên quan đến hình thức vay, mượn, nhận được tài sản thông qua hình thức hợp đồng.

     Tương tự như việc giải quyết các vụ án hình sự thông thường, khi giải quyết các vụ án hình sự thuộc nhóm tội chiếm đoạt liên quan đến hình thức vay, mượn, nhận được tài sản thông qua hình thức hợp đồng Kiểm sát viên phải nghiên cứu hồ sơ một cách kỹ lưỡng, thận trọng từ giai đoạn tin báo, tố giác tội phạm cho đến khi khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử. Đa phần, các vụ án hình sự thuộc nhóm tội phạm này đều do người bị hại đến cơ quan công an trình báo hoặc cũng cá biệt có những trường hợp người phạm tội đến cơ quan công an tự thú. Thông thường các vụ án này đều thuộc trường hợp Viện kiểm sát phải xem xét để phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp hoặc bắt tạm giam do đó việc xác định các dấu hiệu đặc trưng thuộc mặt khách quan của tội phạm, các yếu tố cấu thành tội phạm cũng như việc kiểm sát chặt chẽ các căn cứ bắt, căn cứ để phê chuẩn các lệnh bắt của Cơ quan điều tra trách nhiệm nặng nề thuộc về Viện kiểm sát, trước hết là trách nhiệm của Kiểm sát viên. Bởi lẽ, vụ án có xảy ra oan sai hay không đều bắt đầu từ giai đoạn đầu tiên này. Thông qua thực tiễn giải quyết các vụ án thuộc nhóm này trên địa bàn thành phố Hải Phòng, chúng tôi rút ra một số vấn đề cần lưu ý như sau:

     Thứ nhất, cần phải xác định đúng các dấu hiệu đặc trưng cấu thành tội phạm hình sự.

     Chương XIV Bộ luật hình sự năm 1999 quy định về “các tội phạm sở hữu” với tổng số 13 điều (từ Điều 133 đến Điều 145), có 02 điều luật trực tiếp liên quan đến tội phạm phát sinh trong quan hệ vay mượn thông qua hình thức hợp đồng. Đó là Điều 139: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Điều 140: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Hai tội danh này đều có đặc điểm chung người phạm tội đều phải thông qua hợp đồng vay, mượn, cho thuê... (quan hệ dân sự) để có được tài sản của người khác. Yếu tố đầu tiên cần phải xác định là có hay không có việc giao nhận tài sản thông qua hình thức hợp đồng (bằng văn bản hoặc miệng) giữa người phạm tội với chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản. Cần phải căn cứ vào các tài liệu như: hợp đồng, chứng từ, sổ sách thể hiện quá trình vay, giấy nhận nợ, giấy hẹn... hoặc những tài liệu khác để chứng minh việc vay mượn là có thật, ví dụ: tài sản thế chấp, lời khai của các nhân chứng, sự bảo đảm của bên thứ ba... Do các tội phạm này đều xuất phát từ quan hệ gốc là quan hệ dân sự nên việc xác định ranh giới giữa quan hệ dân sự và tội phạm hình sự rất khó. Nếu xác định không đúng sẽ xảy ra oan sai và ngược lại. Đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng hình sự hóa các quan hệ dân sự khi giải quyết các vụ án hình sự thuộc nhóm tội danh này. Một trong những yếu tố quan trọng để xác định được chính xác tội phạm hình sự là phải xác định đúng thời điểm phát sinh tội phạm. So sánh các Điều 130, Điều 140 Bộ luật hình sự thấy thời điểm phát sinh tội phạm của tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản sẽ sớm hơn và có trước khi nhận được tài sản còn thời điểm phát sinh tội phạm của tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có sau khi nhận được tài sản. Thực tiễn cho thấy việc xác định thời điểm phát sinh tội phạm là rất khó khăn. Bởi lẽ, xuất phát từ quan hệ hợp đồng mà người thực hiện hành vi phạm tội nhận được tài sản của người khác. Thông thường các bên tham gia quan hệ hợp đồng đều thỏa thuận về loại tài sản, thời gian, mục đích sử dụng tài sản, quyền và nghĩa vụ của các bên, các lợi ích vật chất khác... Ví dụ: hợp đồng cho thuê tài sản, cho vay lấy lãi, cho vay đầu tư sản xuất kinh doanh, chơi hụi họ... Nhiều trường hợp do kinh doanh thua lỗ cố gắng vay mượn của người này trả cho người kia với lãi suất cao gấp hàng chục, hàng trăm lần mức lãi suất của ngân hàng hoặc do bị người khác chiếm dụng vốn nên đã dẫn đến mất khả năng thanh toán rồi chiếm đoạt tài sản của người khác. Việc xác định thời điểm phát sinh tội phạm trong những trường hợp này là rất khó khăn và nếu không xác định chính xác thời điểm phát sinh tội phạm sẽ dẫn đến tình trạng xác định sai tội danh hoặc hình sự hóa các quan hệ dân sự kéo theo hậu quả của nó là oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm. Thông thường thời điểm phát sinh tội phạm được xác định trùng với thời điểm mất khả năng thanh toán hoặc mất khả năng tài chính của người thực hiện hành vi phạm tội hoặc thời điểm người vay từ chối nghĩa vụ thanh toán.

      Bên cạnh đó, việc đánh giá có ý thức chiếm đoạt hay không, ý thức chiếm đoạt có từ thời điểm nào cũng là một trong những yếu tố quan trọng để làm căn cứ xác định tội danh cụ thể. Việc đánh giá ý thức chiếm đoạt cần được xem xét một cách thận trọng trên cơ sở toàn bộ diễn biến hành vi khách quan, điều kiện, hoàn cảnh, khả năng tài chính thực sự cũng như ý thức khắc phục hậu quả của người thực hiện hành vi phạm tội.

      Từ khi Bộ luật hình sự năm 1999 có hiệu lực đến nay đã gần 15 năm trôi qua nhưng chưa có văn bản dưới luật hướng dẫn cụ thể về các dấu hiệu đặc trưng cấu thành của hai tội phạm này. Diễn biến phát sinh loại tội phạm này lại có xu hướng gia tăng nhanh trong nền kinh tế thị trường với thủ đoạn ngày càng tinh vi, nguy hiểm hơn, hậu quả xảy ra ngày càng nghiêm trọng hơn. Do vậy, quá trình giải quyết các vụ án hình sự thuộc nhóm tội phạm này còn nhiều vướng mắc, có nhiều quan điểm đánh giá khác nhau khi xác định tội danh cụ thể. Ví dụ: thế nào là thủ đoạn gian dối, thế nào là bỏ trốn chiếm đoạt, thế nào mục đích bất hợp pháp, thế nào là mất khả năng thanh toán.... Thực tiễn tại địa phương chúng tôi đã xác định các dấu hiệu trên cụ thể như sau:

      - Đối với việc xác định dấu hiệu “thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản”  chúng tôi xác định thông qua diễn biến hành vi phạm tội, các tài liệu giấy tờ giả do người phạm tội tạo dựng nên, thông qua hành vi sửa chữa các chứng từ gốc hoặc thông qua chính nguyên cớ mà người thực hiện hành vi phạm gây dựng để nhận được tài sản của chủ sở hữu hợp pháp, người quản lý tài sản rồi chiếm đoạt tài sản của họ. Để xác định mục đích chiếm đoạt của người thực hiện hành vi phạm tội rất khó khăn, không dễ dàng chứng minh bởi lẽ nó là một dạng ý thức phải thông qua các biểu hiện cụ thể để chứng minh. Thông thường chúng tôi căn cứ vào lời khai của người thực hiện hành vi phạm tội để chứng minh mục đích chiếm đoạt nhưng người thực hiện hành vi phạm tội luôn có tâm lý chối tội nên phải thông qua chính điều kiện, hoàn cảnh, diễn biến hành vi phạm tội, động cơ phạm tội để đấu tranh làm sáng tỏ vấn đề này.

      - Đối với việc xác định căn cứ “bỏ trốn để chiếm đoạt”, chúng tôi thường xác minh tại chính quyền địa phương nơi đăng ký hộ khẩu thường trú, nơi tạm trú, nơi làm việc hoặc xác minh tại gia đình thông qua những người thân thích, vợ chồng, con cái, bạn bè thân thiết...về việc vắng mặt của họ. Nhưng để chứng minh việc vắng mặt có kèm theo mục đích chiếm đoạt hay không lại rất khó khăn. Thực tiễn cho thấy, trên địa bàn thành phố tồn tại nhiều băng nhóm kiểu “xã hội đen” chuyên đòi nợ thuê, nên nhiều khi người thực hiện hành vi phạm tội trốn tránh không dám về nhà (vắng mặt tại nơi cư trú, nơi làm việc) là do sợ các thế lực này đe dọa, gây áp lực chứ không phải trốn tránh người có tài sản. Điều này, đòi hỏi Điều tra viên, Kiểm sát viên phải căn cứ vào điều kiện, hoàn cảnh, nhân thân người thực hiện hành vi phạm tội cũng như xem xét các mối quan hệ xung quanh họ để đánh giá thật khách quan lý do họ không có mặt tại địa phương có phải là bỏ trốn hay không. Đồng thời còn phải chứng minh nguồn tài sản, khả năng thanh toán, ý thức thanh toán, chuộc trả lại tài sản cũng như sự chối bỏ nghĩa vụ thanh toán của người thực hiện hành vi phạm tội để chứng minh tính chiếm đoạt của loại tội phạm này. Thực tiễn, nhiều trường hợp sau khi chủ sở hữu tài sản, người quản lý tài sản đến cơ quan công an trình báo, trong thời hạn từ 20 ngày đến 60 ngày (thời hạn giải quyết tin báo – Điều 103 Bộ luật tố tụng hình sự) người thực hiện hành vi phạm tội hoặc gia đình họ chuộc trả tài sản cho chủ sở hữu (khắc phục hậu quả) trước khi cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố vụ án thì tính chiếm đoạt không còn (thiệt hại thực tế không còn) nên không cần thiết phải khởi tố vụ án hình sự. Tuy nhiên, cũng có quan điểm khác đối với việc chuộc trả tài sản chỉ là khắc phục hậu quả nên chỉ coi là tình tiết giảm nhẹ, phải khởi tố hình sự, xử lý nghiêm để tránh tình trạng chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn đến hàng tỉ đồng đang diễn ra trên địa bàn thành phố. Theo chúng tôi, các tội phạm này đều có nguồn gốc từ quan hệ dân sự, nhiều trường hợp do hoàn cảnh quá khó khăn, bần cùng nên đã thực hiện hành vi phạm tội nếu người phạm tội đã khắc phục được hậu quả cũng không nên xử lý về mặt hình sự trừ những trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng hoặc ảnh hưởng xấu đến dư luận xã hội.  Thông thường chứng minh yếu tố “bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản” chúng tôi dựa trên các tài liệu như: biên bản xác minh tại chính quyền địa phương, lời khai của gia đình và người thân thích về việc vắng mặt ở nơi cư trú, nơi làm việc; lời khai của người bị hại về việc sau khi có được tài sản người thực hiện hành vi phạm tội không liên lạc (tắt điện thoại di động, thay số khác, tránh mặt...), không thanh toán, không trả lại tài sản; từ chối nghĩa vụ thanh toán; chây ỳ, không có ý thức chuộc trả tài sản; không có nguồn tài sản hay thu nhập nào khác để thực hiện nghĩa vụ thanh toán...

      - Đối với việc xác định “mục đích bất hợp pháp”, hiện tại cũng có nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này. Có quan điểm cho rằng chỉ có những hành vi trái pháp luật hình sự mới coi là bất hợp pháp. Có quan điểm khác cho rằng các hành vi trái quy định pháp luật (dân sự, hành chính, hình sự....) đều được coi là trái pháp luật, chúng tôi đồng tình với quan điểm này. Thực tế mục đích bất hợp pháp được xác định dựa trên chính lời khai của người thực hiện hành vi phạm tội nhưng theo quy định tại Điều 72 Bộ luật tố tụng hình sự (không được dùng lời khai của bị can làm chứng cứ duy nhất để kết tội) do đó các cơ quan tiến hành tố tụng phải dựa trên các đặc điểm nhân thân, diễn biến hành vi hoặc các chứng cứ khác để chứng minh. Ví dụ: người phạm tội khai sử dụng ma túy thì cần phải căn cứ vào kết quả kiểm tra nước tiểu xem có thành phần ma túy không, lời khai của gia đình, xác minh chính quyền địa phương có biết việc họ sử dụng ma túy hay không; hoặc họ khai đánh bạc thì phải chứng minh họ đánh bạc với ai hoặc phải có tài liệu chứng minh họ đánh bạc (phơi đề, băng ghi hình quay cảnh đánh bạc...); hoặc họ khai huy động vốn sử dụng vào mục đích kinh doanh những hàng hoá, làm những công việc mà pháp luật không cấm thì phải có những văn bản chứng minh mặt hàng họ kinh doanh bị pháp luật cấm...tuy nhiên có những vụ việc người thực hiện hành vi phạm tội sau khi bán tài sản sử dụng tiền chi tiêu cá nhân hoặc đánh bạc hợp pháp (tại Casino) thì lại không được coi là bất hợp pháp. Hiện nay, trên địa bàn thành phố xuất hiện tình trạng cho vay tiền với lãi suất cao gấp hàng trăm lần so với mức lãi suất của ngân hàng quy định nhưng do không chứng minh được tính chất chuyên bóc lột nên không xử lý hình sự đối với họ được đồng thời cũng không thể xác định đây là mục đích bất hợp pháp bởi lẽ các bên đều chấp nhận thỏa thuận này. Việc chứng minh “tính bất hợp pháp” rất khó khăn vì khả năng điều tra gần như không có cơ sở bởi nó còn liên quan đến việc chứng minh tội phạm khác. Ví dụ người phạm tội khai sử dụng tiền chiếm đoạt đánh bạc dưới hình thức đánh lô đề rong, đánh sóc đĩa ở dọc đường... rất khó để chứng minh làm rõ các đối tượng này. Để xử lý được tội phạm này còn liên quan đến một số tội phạm khác sẽ mất nhiều thời gian mà chúng ta lại bị giới hạn bởi thời hạn giải quyết tin báo, thời hạn điều tra nên thực tế có rất nhiều vụ việc tài sản bị chiếm đoạt đến hàng trăm triệu đồng hoặc hàng trăm tỷ đồng nhưng không thể khởi tố hình sự vì không đủ tài liệu chứng minh yếu tố này. Hơn nữa tâm lý của các Điều tra viên, Kiểm sát viên thường thận trọng trong những trường hợp này nếu không rất dễ xảy ra oan sai.

      - Đối với việc xác định yếu tố “mất khả năng thanh toán” thông thường chúng tôi căn cứ vào các tài liệu chứng minh khả năng tài sản, nguồn tài sản của người thực hiện hành vi phạm tội để đánh giá có mất khả năng thanh toán hay không. Nếu họ không có tài sản, không có nguồn thu nào khác, không có khả năng trả lại tài sản, không có ý định trả lại tài sản... thậm chí họ chưa thể trả lại trong tài sản trong một thời gian ngắn thì cũng được coi là mất khả năng thanh toán. Cá biệt việc xác định nghề nghiệp của những người cho vay cũng là yếu tố cần làm rõ để xác định xem đó có phải là rủi ro nghề nghiệp hay không, bởi đây là một trong những nhân tố dẫn đến việc mất khả năng thanh toán. Ví dụ: người cho vay làm nghề cho vay cầm đồ hoặc cho vay lãi nặng thì việc họ cho vay lấy lãi cao mà đến hạn người vay không có khả năng thanh toán cũng có quan điểm cho rằng đây là rủi ro nghề nghiệp mà không buộc người vay phải chịu trách nhiệm hình sự. Thực tiễn có nhiều quan điểm đánh giá khác nhau về vấn đề này, có những trường hợp nguồn tài sản của người phạm tội vẫn có nhưng họ chây ỳ, trốn tránh hoặc từ chối không thanh toán hoặc mất khả năng thanh toán tạm thời thì có coi là mất khả năng thanh toán hay không. Theo chúng tôi các trường hợp này đều được coi là mất khả năng thanh toán.

      Song hành với việc xem xét các dấu hiệu đặc trưng thuộc mặt khách quan của hai tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài như trên cũng cần chú ý một số trường hợp người nhận được tài sản sử dụng tài sản không đúng mục đích đã thoả thuận trong hợp đồng và không có khả năng trả lại tài sản. Kết quả điều tra không chứng minh được họ đã sử dụng vào mục đích bất hợp pháp và không bỏ trốn, chỉ chứng minh được họ làm thất thoát tài sản, không thu hồi được và không trả lại tài sản. Theo chúng tôi, những trường hợp này, người phạm tội đã thực hiện hành vi sử dụng trái phép tài sản (không đúng với cam kết trong hợp đồng), gây hậu quả làm thất thoát tài sản. Nếu tài sản thất thoát lớn, không thu hồi được có giá trị trên 50.000.000đ hoặc hậu quả gây ra thuộc các trường hợp quy định tại điểm 3.4 mục I Thông tư liên tịch số 02/2001 ngày 25/12/2001 của Bộ Công an – Bộ Tư pháp – Tòa án nhân dân tối cao – Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XIV “các tội xâm phạm về sở hữu” Bộ luật hình sự 1999 thì cần phải xử lý về tội sử dụng trái phép tài sản theo Điều 142 Bộ luật hình sự.

      Thứ hai, một số thủ đoạn phạm tội mới xuất hiện trong thời gian gần đây.

Hiện nay, trình tự thủ tục cho vay của hệ thống các ngân hàng rất chặt chẽ phải trải qua hàng loạt các bước từ thẩm định cho đến giải ngân với thời gian dài và đặc biệt là cần có tài sản thế chấp nên những người thiếu vốn thường gặp khó khăn trong việc huy động vốn từ ngân hàng. Lợi dụng chính sự chặt chẽ của hệ thống tín dụng ngân hàng, trên địa bàn thành phố trong thời gian gần đây đã xuất hiện hàng hoạt các dịch vụ “tín dụng đen” tồn tại dưới các mô hình cầm đồ, công ty cho thuê tài chính, cho vay thế chấp, cho vay cá nhân... Các đối tượng kinh doanh tín dụng đen không cần tài sản thế chấp đảm bảo cho các khoản vay, không cần chứng minh khả năng thanh toán, mục đích sử dụng vốn vay, thậm chí thời hạn vay không giới hạn và cũng không có bất kỳ thủ tục vay nào rườm ra gây mất nhiều thời gian. Chỉ cần người vay ký tên vào sổ vay, sổ cầm đồ là đã có thể nhận tiền ngay. Hệ thống tín dụng đen cho vay với lãi suất “cắt cổ” cao gấp hàng trăm lần mức lãi suất ngân hàng nhưng lại không được ghi nhận vào các văn bản giấy tờ mà chỉ thỏa thuận miệng. Hoặc nhiều người dân hám lãi cao đã tin tưởng giao tài sản đến hàng trăm triệu hoặc hàng tỉ đồng cho người phạm tội vay hoặc cho chính “xã hội đen” vay thậm chí còn đi vay với lãi suất thấp để cho vay lại với lã suất cao hơn để hưởng chênh lệch. Những “kẻ lừa đảo” đã nhằm vào chính đặc điểm tâm lý hám lời cao của người cho vay để chiếm đoạt tài sản. Kinh tế càng suy thoái thì hoạt động tín dụng càng phát triển đặc biệt là tín dụng đen, nguy cơ rủi ro của những người cho vay càng cao nên tội phạm thuộc nhóm này sẽ gia tăng một cách nhanh chóng. Do đó, cần phải có nhận thức đúng đắn để xử lý đúng người, đúng tội, đúng pháp luật tránh oan sai, bỏ lọt tội phạm.

      - Cùng với phát triển của nền kinh tế thị trường là sự bùng nổ của hàng loạt các loại hình dịch vụ. Trong đó, dịch vụ cho thuê xe ô tô tự lái đang được diễn ra phổ biến nhưng từ thực tiễn cho thấy loại hình này cũng đang là nguy cơ tiềm năng của tội phạm thuộc nhóm chiếm đoạt thông qua hình thức hợp đồng. Trình tự thủ tục, hợp đồng cho thuê xe quá lỏng lẻo, không có sự ràng buộc trách nhiệm cao giữa người thuê và người cho thuê, không có tài sản đảm bảo... cũng là nguyên nhân tạo điều kiện cho nhóm tội phạm này phát triển. Thời gian gần đây, trên địa bàn thành phố có đến hàng chục công ty kinh doanh dịch vụ cho thuê xe ô tô tự lái gửi hàng trăm đơn tố cáo đến cơ quan điều tra tố giác người thuê xe tự lái chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn đến hàng tỉ đồng nhưng do việc điều tra, truy tố, xét xử đối với loại tội phạm này còn nhiều vướng mắc, bất cập như nội dung nêu trên nên quyền lợi chính đáng của những người kinh doanh loại hình dịch vụ này chưa được đảm bảo. Nếu không được xử lý nghiêm thì tình trạng thuê, mượn xe ô tô hoặc tài sản có giá trị lớn đến hàng tỉ đồng mang bán hoặc cầm cố nhưng không bỏ trốn, không sử dụng vào mục đích bất hợp pháp sẽ gia tăng nhanh chóng đặc biệt là ở giai đoạn kinh tế suy thoái. Hậu quả của nó là tình trạng mất trật tự trị an xã hội cũng sẽ gia tăng.

      - Để hỗ trợ cho những người có thu nhập thấp có cơ hội sở hữu tài sản có giá trị, các doanh nghiệp kinh doanh xe máy, ô tô, nhà... đã kết hợp với hệ thống ngân hàng hỗ trợ dịch vụ mua bán trả góp (người mua trả trước một phần tiền, phần còn lại sẽ trả dần). Kẻ phạm tội đã lợi dụng chính các điều kiện “đơn giản” của thủ tục trả góp chỉ cần các tài liệu sao có chứng thực của cơ quan nhà nước, không cần chứng minh nguồn thu tài sản đã có thể mua trả góp; lợi dụng sự phát triển của khoa học công nghệ, sao chụp các giấy tờ của mình rồi gắn tên người khác làm giả chứng thực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, thậm chí làm hợp đồng công chứng giả để ký hợp đồng mua tài sản trả góp rồi chiếm đoạt số tiền được trả góp.

      - Để có thể kiếm được nhiều khách hàng, hệ thống “tín dụng đen” đã lợi dụng các chính sách khuyến mại, sự quản lý không chặt chẽ đối với khách hàng sử dụng dịch vụ của các công ty viễn thông để nhắn tin đến các số điện thoại di động của các mạng di động quảng cáo các loại hình cho vay với thủ tục đơn giản, lãi suất phù hợp, không cần tài sản thế chấp... rồi sau khi đã có được hợp đồng chúng tiến hành nâng lãi suất cao dần đến mức người vay không trả nổi lãi thì tiến hành “siết nợ” bằng cách lấy toàn bộ tài sản của gia đình người vay.

      Thứ ba, một số tội phạm có liên quan đến hậu quả của nhóm tội phạm này.

Xem xét các hoạt động thu hồi nợ của các chủ nợ tại địa phương thấy có nhiều hành vi mang dấu hiệu của tội phạm hình sự, thực tiễn cũng có nhiều vụ án hình sự được khởi tố khi chủ nợ đòi nợ “quá đà”. Thông thường ngay sau khi bị chiếm đoạt tài sản, chủ sở hữu tài sản hoặc người quản lý tài sản ráo riết tìm người phạm tội nhưng không gặp nên dễ nảy sinh tâm lý bực tức. Do vậy, khi tìm gặp được người phạm tội thì các chủ nợ này thường chửi bới thậm chí đánh đập người phạm tội; ép người phạm tội phải viết giấy nhận nợ hoặc ép người phạm tội phải gán tài sản khác để trừ nợ, nếu người phạm tội không chịu trả nợ hoặc không chịu gán nợ thì sẽ sử dụng vũ lực để lấy bằng được nợ hoặc nếu người phạm tội không có tài sản để trả nợ ngay thì các chủ nợ sẵn sàng lôi kéo nhiều người khác đến ăn nằm chờ tại nhà của người phạm tội để gây sức ép buộc người vay phải trả nợ… Từ những hành vi, cách thức đòi nợ cụ thể của các chủ nợ mà các Cơ quan tiến hành tố tụng xem xét thỏa mãn các dấu hiệu đặc trưng cấu thành của tội phạm nào để xử lý, ví dụ:

      - Một số hành vi mang dấu hiệu tội Cướp tài sản quy định tại Điều 133 Bộ luật hình sự: hành vi chặn đường đánh đòi nợ, đánh để lấy tài sản khác xiết nợ, đánh bắt ép viết giấy nhận nợ…

      - Một số hành vi mang dấu hiệu của tội Cưỡng đoạt tài sản quy định tại Điều 135 Bộ luật hình sự: đe dọa gây tai nạn giao thông trên đường nếu không trả nợ để ép người vay viết giấy nhận nợ, đe dọa đánh nếu không viết giấy nhận nợ, đe dọa đánh hoặc gây cản trở cho những người thân thích của người vay nếu không trả nợ…

      - Một số hành vi mang dấu hiệu của tội Xâm phạm chỗ ở công dân quy định tại Điều 124 Bộ luật hình sự: chủ nợ cho nhiều người là “xã hội đen” đến đe dọa, chửi, ăn nghỉ tại nhà của người vay để gây sức ép buộc gia đình hoặc người thân của người vay có trách nhiệm với các khoản vay của mình…

      - Một số hành vi mang dấu hiệu của tội Gây rối trật tự công cộng quy định tại Điều 245, Chống người thi hành công vụ quy định tại Điều 257 Bộ luật hình sự: các thế lực “xã hội đen” thường kéo đông người hò hét, đe dọa, chửi làm mất trật tự trị an gây ảnh hưởng xấu đến dư luận trong nhân dân thậm chí khi lực lượng cảnh sát đến giải quyết các thế lực “xã hội đen” này còn sử dụng vũ khí để tấn công chống trả…

       Thứ tư, một số vấn đề khác cần chú ý.

      - Do còn nhiều quan điểm khác nhau trong vấn đề đánh giá chứng cứ, đánh giá các dấu hiệu đặc trưng của tội phạm cụ thể, về quan điểm xử lý lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng đã tổ chức nhiều hội thảo khoa học mời các chuyên gia, lãnh đạo các ban ngành thảo luận và thống nhất hướng giải quyết các vấn đề đang vướng mắc. Tuy nhiên, một số người tiến hành tố tụng (Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán...) vẫn mang tư duy, nhận thức cũ (làm việc theo thói quen không chịu tiếp nhận những quan điểm nhận thức mới) về các tội phạm chiếm đoạt thuộc nhóm này nên dẫn đến việc định hướng điều tra không chính xác; quá trình thu thập, đánh giá chứng cứ không đúng với bản chất của hành vi phạm tội, không phù hợp với những nội dung thay đổi, hướng dẫn mới của pháp luật hình sự. Thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử trong thời gian qua cho thấy một số vụ án đã khởi tố điều tra về các tội phạm Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản chưa chính xác. Ngược lại, một số nhiềuhành vi hội đủ yếu tố cấu thành tội phạm nhưng lại chưa được khởi tố, điều tra. Hơn nữa, hiện nay do áp lực công việc, số lượng Điều tra viên không nhiều nên đã nảy sinh tâm lý ngại việc, trong giai đoạn giải quyết tin báo tố giác họ thường không muốn giải quyết những vụ việc này đã dẫn đến tình trạng vi phạm thời hạn giải quyết, khiếu kiện kéo dài và không công bằng trong thực tế.

       - Đối với việc người phạm tội trả lại tài sản chiếm đoạt hoặc khắc phục hậu quả sau khi chủ sở hữu tài sản và người quản lý tài sản đến cơ quan công an trình báo. Thực tiễn giải quyết cho thấy còn nhiều quan điểm đánh giá khác nhau về vấn đề này. Có quan điểm cho rằng đây chỉ là vấn đề khắc phục hậu quả, tội phạm hình sự đã hoàn thành rồi nên chỉ coi là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b khoản 1 điều 46 Bộ luật hình sự. Có quan điểm khác lại đánh giá sự chiếm đoạt thực tế không còn nên không có tội phạm hình sự. Theo chúng tôi, tùy từng tính chất nguy hiểm cho xã hội của từng vụ việc cụ thể mà người tiến hành tố tụng xem xét, đánh giá vận dụng cho phù hợp. Tuy nhiên cũng cần hướng dẫn quy định cụ thể để tránh tình trạng lạm dụng “vận dụng tùy nghi” trong quá trình giải quyết vụ án.

      - Bên cạnh đó, việc xác định ý thức của người bị hại có quan tâm đến mục đích sử dụng tài sản của họ khi cho người phạm tội vay, mượn hay thuê hay không cũng có ý nghĩa trong việc xác định có hay không có tội phạm hình sự. Trong nhiều trường hợp ý thức của người bị hại quyết định đến giao dịch đã thực hiện giữa họ và người phạm tội là giao dịch dân sự. Ví dụ: với những hành vi, thủ đoạn, cách thức thực hiện hành vi phạm tội giống nhau đối với nhiều người bị hại, nhưng có những người bị hại do là bạn bè thân thiết của người phạm tội, họ cho người phạm tội vay với số lượng tiền không lớn (có trường hợp đến vài chục triệu đồng) với mục đích giúp đỡ (cho vay nhưng không có ý định lấy lại tài sản, người vay trả cũng được không trả cũng được), họ không quan tâm đến việc người phạm tội sử dụng tiền vay của mình vào mục đích gì nên thực tiễn giải quyết chúng tôi xác định đây là quan hệ dân sự, do vậy khối lượng tài sản này không được tính vào khối lượng buộc tội.

      - Một số tình tiết cần làm rõ như nhân thân người bị hại, niềm tin của bị hại vào khả năng thanh toán của đối tượng phạm tội đến đâu cũng là yếu tố được xác định là quan hệ dân sự (rủi ro nghề nghiệp). Thông thường những người bị hại và đối tượng phạm tội trong nhóm tội này thường có quan hệ tình cảm thân thiết, rất dễ thay đổi lời khai và xin cho nhau; tâm lý không muốn cung cấp các tài liệu chứng từ vay vì liên quan đến mức lãi suất, họ sợ bị truy cứu trách nhiệm trong việc cho vay nặng lãi. Do vậy, quá trình kiểm sát điều tra Điều tra viên, Kiểm sát viên cần chú ý để đánh giá một cách thận trọng để tránh tình trạng bỏ lọt tội phạm.

       - Hậu quả của những tội phạm này là tài sản của người bị hại bị chiếm đoạt với số lượng lớn mà chưa được khắc phục, gây tâm lý khó chịu, không thỏa đáng với mọi quyết định của các cơ quan tố tụng nên thường có đơn thư khiếu kiện kéo dài gây bức xúc trong dư luận và gây áp lực với các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do vậy, quá trình giải quyết vụ án phải thận trọng, nếu có thể nên tổ chức để các bên hòa giải, bồi thường toàn bộ hoặc một phần còn lại cam kết trả dần để tránh bức xúc từ phía người bị hại. Việc hòa giải không chỉ tiến hành ở một giai đoạn tố tụng mà cần tiến hành ở tất cả các giai đoạn tố tụng để vừa có thể đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp của người bị hại vừa tránh đơn thư khiếu kiện kéo dài.

      - Quá trình xét xử, tại phiên tòa các bị cáo thường có tâm lý chối tội, khai né tránh mục đích sử dụng tài sản không phải vào mục đích bất hợp pháp hoặc việc không có mặt tại địa phương không nhằm mục đích chiếm đoạt mà trốn tránh những chủ nợ khác hoặc trốn tránh thế lực “xã hội đen” đang gây áp lực, đe dọa, không trốn tránh nghĩa vụ thanh toán … hoặc cãi theo hướng mục đích chiếm đoạt có sau khi có được tài sản để chuyển hóa tội danh từ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản sang Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản để nhẹ tội. Cũng như các vụ án thông thường khác, trách nhiệm của Kiểm sát viên phải nghiên cứu kỹ hồ sơ để nắm rõ các tình tiết của vụ án, hệ thống các chứng cứ kết tội, gỡ tội đối với các bị cáo; chủ động xây dựng kế hoạch xét hỏi, dự kiến các tình huống sẽ xảy ra tại phiên tòa để tranh luận với người bào chữa và bị cáo tại phiên tòa. Trong các tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, thông thường người bào chữa thường hay đặt vấn đề các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự hóa các quan hệ dân sự hoặc tìm ra những kẽ hở của luật, hoặc lợi dụng những vấn đề luật chưa quy định rõ ràng để đánh đồng khái niệm và định hướng các tội phạm do Viện kiểm sát truy tố đối với người phạm tội sang tội danh khác nhẹ hơn hoặc không có tội. Nhiệm vụ đặt ra với Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử vô cùng quan trọng trong việc bảo vệ cáo trạng. Kiểm sát viên phải nghiên cứu kỹ các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ, các văn bản pháp luật, hiểu đúng tinh thần văn bản pháp luật quy định, vận dụng linh hoạt vào trong từng vụ án cụ thể.

      2. Một số kiến nghị đề xuất.

      - Từ khi Bộ luật hình sự năm 1999 ra đời đến nay, chưa có văn bản dưới luật nào hướng dẫn cụ thể về các dấu hiệu đặc trưng của tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Do nhận thức về pháp luật chưa thống nhất nên vẫn còn nhiều quan điểm, nhiều cách hiểu khác nhau về những quy định của luật tại Điều 139, 140 Bộ luật hình sự. Vì vậy, cần có văn bản hướng dẫn cụ thể về các dấu hiệu đặc trưng của các tội danh cụ thể thuộc nhóm tội chiếm đoạt này, trước hết là tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Cần mở rộng các khái niệm: gian dối để chiếm đoạt, sử dụng vào mục đích bất hợp pháp; bỏ trốn để chiếm đoạt, từ chối nghĩa vụ thanh toán… để có căn cứ pháp lý khi thực hiện và áp dụng pháp luật.

      - Trình độ nhận thức pháp luật của các bị cáo trong nhóm tội danh này có phần cao hơn các nhóm tội phạm chiếm đoạt khác, thủ đoạn phạm tội ngày một tinh vi hơn, cách thức phạm tội ngày xảo quyệt hơn. Trên địa bàn thành phố có quá nhiều vụ việc vay, mượn, thuê tài sản có giá trị lớn đến hàng trăm triệu đồng nhưng lợi dụng các kẽ hở của luật để chiếm đoạt tài sản của người khác hoặc chuyển hướng sang các giao dịch dân sự, điều này cũng có nghĩa là khi nào có thì trả, thích thì trả, không trả cũng chẳng làm gì được… Do đó, cần nâng cao tinh thần trách nhiệm, năng lực trình độ của những người tiến hành tố tụng (cụ thể là các Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán) để có nhận thức đúng đắn về chức năng, nhiệm vụ đảm bảo việc thu thập đánh giá chứng cứ đúng pháp luật.

      - Trình độ năng lực của các Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán chưa đồng đều, còn có nhiều nhận thức khác nhau giữa 3 ngành Công an – Viện kiểm sát – Tòa án. Vì vậy, để đảm bảo tính thống nhất các cơ quan tiến hành tố tụng cấp trên cần ban hành văn bản liên ngành hướng dẫn chi tiết, cụ thể về các loại tội danh này.

      - Tiếp tục tuyên truyền, sâu rộng trong quần chúng nhân dân về các thủ đoạn, cách thức thực hiện hành vi phạm tội mới của nhóm tội phạm này để nhân dân nâng cao tinh thần cảnh giác trước những thủ đoạn phạm tội mới, tránh tình trạng bị chiếm đoạt tài sản với số lượng lớn.

      - Cần xét xử nghiêm minh các hành vi “đòi nợ thuê” của các băng nhóm “xã hội đen” đang tồn tại dưới nhiều hình thức trên địa bàn thành phố hiện nay để duy trì an ninh trật tự trên địa bàn thành phố góp phần tuyên truyền, giáo dục phòng ngừa tội phạm.

      - Cần quy định cụ thể chi tiết hơn nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự trong Bộ luật tố tụng hình sự. Cần quy định theo hướng mở rộng phạm vi và coi đây là một trong những trường hợp được miễn, giảm trách nhiệm hình sự. Điều này cũng phù hợp với xu hướng tránh hình sự hóa các quan hệ dân sự trong giai đoạn hiện nay.

Ths. Nguyễn Thị Tuyết Nhung - VKSND quận Lê Chân – Hải Phòng

Ứng dụng hỗ trợ nghiệp vụ

Tin tức
Thông tin cần biết
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1

Trang thông tin điện tử: VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG - Cơ quan chủ quản: VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO
Địa chỉ: Lô 18A, Lê Hồng Phong, P. Hải An, TP Hải Phòng - Điện thoại: 02253.838308 - Fax: 02253.839072 - Email: vp_haiphong@vks.gov.vn
Trưởng ban biên tập: Phó Viện trưởng Nguyễn Mạnh Vỹ
Số giấy phép: 03/GP-STTTT do Sở Thông tin và Truyền thông TP Hải Phòng cấp ngày 17 tháng 10 năm 2017 (Giấy phép có giá trị 10 năm)
Bản quyền thuộc về VKSND TP Hải Phòng - Thiết kế bởi VNPT | Quản trị

Chung nhan Tin Nhiem Mang