Nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện tại phiên tòa dân sự.

      Qua thực tiễn công tác, cá nhân tôi thấy còn một số vướng mắc trong việc hiểu và áp dụng pháp luật đối với trường hợp nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện tại phiên tòa dân sự, nên đưa ra trao đổi cùng các đồng nghiệp.

Ảnh minh họa

      Khoản 2 Điều 218 BLTTDS quy định:

      “ 2. Trong trường hợp có đương sự rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của mình và việc rút yêu cầu của họ là tự nguyện thì Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu hoặc toàn bộ yêu cầu đương sự đã rút”.

      Tuy nhiên, xuất phát từ quan điểm khoa học chưa thống nhất nên thực tiễn xét xử, vẫn tồn tại hướng giải quyết của Tòa án khác với quy định nêu trên trong trường hợp đương sự rút một phần yêu cầu khởi kiện tại phiên tòa nhưng vẫn chưa bị Tòa cấp trên hủy, sửa. Ví dụ: Nguyên đơn là ngân hàng A khởi kiện công ty B về việc không thực hiện hợp đồng tín dụng đã ký kết. Trong đó, A có 03 yêu cầu:

      - Buộc B phải thanh toán cho A toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi, tiền phạt chậm trả lãi và các khoản chi phí phát sinh liên quan theo hợp đồng tín dụng hai bên đã ký.

      - Yêu cầu Tòa án tiếp tục tính lãi quá hạn theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến ngày B thực tế thanh toán hết nợ cho A.

      - Yêu cầu tòa tuyên trong bản án về việc A có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án kê biên, mát mại tài sản đảm bảo để thu hồi nợ.

      Tại phiên tòa, A đề nghị rút yêu cầu khởi kiện đối với B về tiền phạt chậm trả lãi và đã được Hội đồng xét xử chấp nhận.

      Quan điểm thứ nhất cho rằng, trong trường hợp này, Bản án chỉ cần nhận định về việc Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Theo đó, trong phần Quyết định, Bản án chỉ nêu chấp nhận hoặc không chấp nhận phần yêu cầu còn lại của Nguyên đơn mà không cần đình chỉ đối với phần yêu cầu đã được rút. Như trong ví dụ trên, nếu nguyên đơn chứng minh được yêu cầu khởi kiện của mình có cơ sở thì Bản án sẽ chỉ cần quyết định chấp nhận yêu cầu đó, buộc B phải:

      (1) Thanh toán cho A toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi và các khoản chi phí phát sinh liên quan theo hợp đồng tín dụng hai bên đã ký.

      (2) Tiếp tục trả lãi quá hạn theo cho đến ngày B thực tế thanh toán hết nợ cho A.

      (3) A có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án kê biên, mát mại tài sản đảm bảo để thu hồi nợ.

      Phần yêu cầu của nguyên đơn về “tiền phạt chậm trả lãi” không được Hội đồng xét xử xem xét giải quyết tiếp (do đã tự nguyện rút) nhưng cũng không bị đình chỉ trong Bản án này. Bởi vì, yêu cầu về “tiền phạt chậm trả lãi” chỉ là một trong ba nội dung tại yêu cầu khởi kiện đầu tiên (1) của nguyên đơn, không thể đánh giá là “một phần yêu cầu khởi kiện” để đình chỉ theo tinh thần của Điều 218 Bộ luật tố tụng dân sự. Quan điểm này cho rằng, với ví dụ này, phải hiểu “một phần yêu cầu khởi kiện” chính là trọn vẹn nội dung của một trong ba yêu cầu khởi kiện (được đánh số từ (1) đến (3)). Hơn nữa, trong trường hợp này, dù bản án có tuyên đình chỉ hay không đình chỉ phần yêu cầu đó thì cũng không ảnh hưởng tới quyền và nghĩa vụ của các bên với nhau và với Nhà nước (án phí). Bản án chỉ cần quyết định như vậy cho giản tiện, dễ hiểu mà giá trị pháp lý vẫn không khác so với việc phải đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện được rút.

      Quan điểm thứ hai cho rằng, Bản án phải tuyên đình chỉ đối với bất kỳ phần yêu cầu khởi kiện nào nguyên đơn tự nguyện xin rút và được Hội đồng xét xử chấp nhận. Như trong ví dụ nêu trên, Bản án phải tuyên đình chỉ đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn thanh toán “tiền phạt chậm trả lãi”.

      Theo quan điểm của cá nhân người viết, cần thiết phải hiểu và áp dụng Điều 218 Bộ luật dân sự (trong trường hợp tương tự như ví dụ) theo quan điểm thứ hai. Bởi lẽ, nếu không tuyên đình chỉ đối với phần yêu cầu khởi kiện nguyên đơn tự nguyện xin rút tại phiên tòa và được Hội đồng xét xử chấp nhận (cho dù là rất nhỏ so với toàn bộ nội dung khởi kiện) vô hình chung, sẽ có một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bị “bỏ lửng”, không có kết quả giải quyết cuối cùng, được đảm bảo giá trị pháp lý bằng một bản án. Về nguyên tắc, nếu nội dung khởi kiện đã đúng quy định của pháp luật, được thụ lý giải quyết, Tòa án phải xem xét toàn diện và giải quyết triệt để. Hơn nữa, Bản án có tuyên đình chỉ hay không đối với phần yêu cầu đó tuy không dẫn đến kết quả khác nhau về việc tính án phí nhưng lại ảnh hưởng rất lớn tới quyền kháng cáo của các đương sự về nội dung này. Theo đó, việc giải quyết theo hướng không đình chỉ phần yêu cầu khởi kiện nguyên đơn tự nguyện xin rút tại phiên tòa và được Hội đồng xét xử chấp nhận đã làm ảnh hưởng không nhỏ tới quyền lợi của các bên.

      Trên đây là quan điểm cá nhân của người viết từ vướng mắc thực tiễn, xin được đưa ra để các đồng nghiệp cùng trao đổi, truyền đạt kinh nghiệm và cấp trên hướng dẫn quan điểm giải quyết chính thức nhằm nâng cao hơn nữa kiến thức và chất lượng công tác.

Đồng Thị Lan Anh – Viện kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền.

Ứng dụng hỗ trợ nghiệp vụ

Tin tức
Thông tin cần biết
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1

Trang thông tin điện tử: VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG - Cơ quan chủ quản: VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO
Địa chỉ: Lô 18A, Lê Hồng Phong, P. Hải An, TP Hải Phòng - Điện thoại: 02253.838308 - Fax: 02253.839072 - Email: vp_haiphong@vks.gov.vn
Trưởng ban biên tập: Phó Viện trưởng Nguyễn Mạnh Vỹ
Số giấy phép: 03/GP-STTTT do Sở Thông tin và Truyền thông TP Hải Phòng cấp ngày 17 tháng 10 năm 2017 (Giấy phép có giá trị 10 năm)
Bản quyền thuộc về VKSND TP Hải Phòng - Thiết kế bởi VNPT | Quản trị

Chung nhan Tin Nhiem Mang