Nguyên tắc \"Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật\" theo quy định của Hiến pháp sửa đổi năm 2013
Điều 26 Công ước về quyền dân sự, chính trị năm 1966 của Liên Hợp quốc (trong đó Việt Nam gia nhập ngày 24/9/1982) cụ thể hóa hơn về cơ chế bảo vệ quyền bình đẳng trước pháp luật: "Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và có quyền được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng mà không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào. Về mặt này, pháp luật phải nghiêm cấm mọi sự phân biệt đối xử và đảm bảo cho mọi người sự bảo hộ bình đẳng và có hiệu quả chống lại những phân biệt đối xử về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hoặc quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội, tài sản, thành phần xuất thân hoặc các địa vị khác".
Như vậy, nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật phản ánh những nội dung căn bản, đó là:
Thứ nhất, tất cả mọi người đều có vị thế ngang nhau trước pháp luật và có quyền không bị phân biệt đối xử, bình đẳng trước pháp luật.
Quyền bình đẳng trước pháp luật được thể hiện trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội đặc biệt là các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội nhất là quyền bình đẳng trong lĩnh vực pháp lý. Quyền và nghĩa vụ của công dân không bị phân biệt bởi giới tính, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, giàu nghèo, thành phần xã hội, địa vị xã hội… Trong cùng một điều kiện như nhau, công dân được hưởng quyền và nghĩa vụ như nhau, có tư cách pháp lý như nhau.
Thứ hai, pháp luật là thước đo chuẩn mực của bình đẳng, là công cụ để bảo đảm sự bình đẳng giữa con người với con người. Bất kỳ công dân nào vi phạm pháp luật đều bị xử lí bằng các chế tài theo quy định của pháp luật.
Ở Việt Nam, bình đẳng trước pháp luật được thể hiện nhất quán trong các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980 và 1992. Điều 6, 7 Hiến pháp 1946 quy định: "Tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện: chính trị, kinh tế, văn hóa". "Tất cả công dân Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật, đều được tham gia chính quyền và công cuộc kiến quốc tùy theo tài năng và đức hạnh của mình". Hiến pháp năm 1992 tiếp tục khẳng định: "Công dân có quyền bình đẳng trước pháp luật" (Điều 51).
Theo đó quyền bình đẳng trước pháp luật được cụ thể hóa trong các lĩnh vực cụ thể của quan hệ pháp luật. Về quan hệ pháp luật hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 xác định là một trong những nguyên tắc cơ bản đầu tiên, chi phối toàn bộ quá trình tố tụng hình sự, từ điều tra, truy tố đến xét xử vụ án hình sự. Điều 5 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định: "Tố tụng hình sự tiến hành theo nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, nam nữ, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, địa vị xã hội. Bất cứ người nào phạm tội đều bị xử lý theo pháp luật".
Điều 5 Bộ luật dân sự 2005 quy định: "Trong quan hệ dân sự, các bên đều bình đẳng, không được lấy lý do khác biệt về dân tộc, giới tính, thành phần xã hội, hoàn cảnh kinh tế, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp để đối xử không bình đẳng với nhau".
Như vậy nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật là một nội dung xuyên suốt tư tưởng lập pháp của nước ta. Tuy nhiên, có thể thấy, trong các văn bản pháp luật trên, quyền bình đẳng trước pháp luật chỉ được nhà nước ta thừa nhận là quyền công dân chứ không phải là quyền con người. Hiến pháp 1946 quy định tại Điều 6, Điều 7 thuộc Chương II "Nghĩa vụ và quyền lợi công dân". Hiến pháp 1992 quy định tại Điều 51 cũng thuộc Chương V "Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân". Trong khi đó, khái niệm quyền con người có phạm trù rộng hơn quyền công dân. Do đó, quyền con người và việc bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật của con người chưa được công nhận đầy đủ, trọn vẹn. Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến thực tế còn nhiều trường hợp không đảm bảo bình đẳng, cơ chế thực hiện chưa được xây dựng phù hợp và phát huy hiệu quả trên thực tiễn.
Trước xu thế hội nhập quốc tế, Hiến pháp sửa đổi năm 2013 đã được sửa đổi, bổ sung phù hợp, với những điểm mới quan trọng, nổi bật là đề cao quyền con người. Cụ thể Hiến pháp sửa đổi năm 2013 đã quy định quyền con người tách khỏi quyền công dân và được quy định tại Chương II "Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân". Theo đó, nội dung của nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật được quy định tại Điều 16: "Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội".
Như vậy, so với các quy định của các bản Hiến pháp trước đây thì quy định Hiến pháp sửa đổi năm 2013 về quyền bình đẳng trước pháp luật được thể hiện đầy đủ, cụ thể hơn:
Thứ nhất, Hiến pháp sửa đổi năm 2013 khẳng định bình đẳng trước pháp luật là quyền con người. Việc quy định theo hướng mở rộng đối tượng có quyền bình đẳng trước pháp luật như trên cho thấy Việt Nam ghi nhận quyền bình đẳng trước pháp luật là quyền tự nhiên của con người trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội.
Thứ hai, Hiến pháp sửa đổi năm 2013 khẳng định quyền bình đẳng trước pháp luật của mọi người được công nhận trong tất cả lĩnh vực, bao gồm đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội.
Cùng với việc ghi nhận nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của con người, Hiến pháp sửa đổi năm 2013 quy định rõ ràng, đầy đủ các quyền của con người như quyền sống, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, quyền tự do đi lại, tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận, quyền tham gia quản lý nhà nước... Song song với việc quy định các quyền là những quy định về nghĩa vụ của con người như nghĩa vụ tuân theo Hiến pháp và pháp luật, nghĩa vụ bảo vệ tổ quốc, nghĩa vụ nộp thuế...
Thứ ba, pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng, không phân biệt đối xử đối với mọi người trong việc hưởng các quyền và thực hiện các nghĩa vụ.
Hiến pháp sửa đổi năm 2013 khẳng định"Mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác" (Điều 15 khoản 2). Từ đó có những quy định một cách khái quát nhất về cơ chế bảo vệ quyền và nghĩa vụ hợp pháp của con người bằng cách quy định những điều "cấm" và quy định trách nhiệm của Nhà nước trong việc tôn trọng và bảo hộ quyền con người.
Ví dụ: Điều 19 Hiến pháp sửa đổi năm 2013 quy định: "Mọi người có quyền sống. Tính mạng con người được pháp luật bảo hộ. Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật".
Điều 24 Hiến pháp sửa đổi năm 2013 quy định: "Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo".
* Trách nhiệm của ngành Kiểm sát nhân dân trong việc triển khai thi hành quy định của Hiến pháp sửa đổi 2013 về nguyên tắc mọi người bình đẳng trước pháp luật:
Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan tư pháp có chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp, có nhiệm vụ "bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất". Với trọng trách được Đảng và Nhà nước giao phó cùng những quy định mới của Hiến pháp sửa đổi năm 2013 nói chung và quy định về nguyên tắc mọi người bình đẳng trước pháp luật nói riêng đặt ra yêu cầu cao hơn, trách nhiệm hơn đối với ngành Kiểm sát nhân dân. Vì vậy, ngành Kiểm sát nhân dân cần nghiêm túc triển khai thực hiện, cụ thể:
Thứ nhất, ngành Kiểm sát nhân dân cần tổ chức triển khai sâu rộng quy định của Hiến pháp giúp đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên nhận thức đầy đủ, đúng đắn các quy định của Hiến pháp nói chung và quy định về quyền con người và nguyên tắc mọi người bình đẳng trước pháp luật nói riêng.
Thứ hai, Viện kiểm sát phải thực sự là chỗ dựa của nhân dân trong việc bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người.
Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã xác định: "nhiệm vụ cải cách tư pháp đang đứng trước nhiều thách thức". Tình hình phạm tội diễn biến ngày càng phức tạp, các khiếu kiện hành chính, các tranh chấp dân sự, kinh tế, lao động đều gia tăng. Theo đó, đòi hỏi của công dân và xã hội đối với các cơ quan tư pháp nói chung và cơ quan Viện kiểm sát nói riêng ngày càng cao. Do vậy, để tạo được lòng tin trong nhân dân và trở thành chỗ dựa của nhân dân, trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của ngành Kiểm sát nhân dân cần tiếp tục nâng cao chất lượng công tác. Trong mỗi khâu công tác đều phải coi việc bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân, đảm bảo quyền bình đẳng của mọi người là điều kiện tiên quyết để đánh giá việc giải quyết các vụ việc đúng pháp luật.
Thứ ba, cần tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật với nhiều hình thức phong phú nhằm nâng cao ý thức pháp luật trong nhân dân, giúp dân hiểu, phát huy quyền và thực hiện nghiêm nghĩa vụ của mình.
Thứ tư, tích cực tham gia nghiên cứu, rà soát sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật nói chung và những quy định về quyền bình đẳng của con người và cơ chế đảm bảo quyền bình đẳng của con người nói riêng, trước mắt là các quy định liên quan chế định quyền con người, quyền công dân trong Bộ luật Tố tụng hình sự theo hướng thay đổi thuật ngữ, mở rộng chủ thể có quyền bình đẳng trước pháp luật./.
Nguyễn Hồng Ly - VKSND quận Hải An