Nguyên tắc “Suy đoán vô tội” và các quy định của nguyên tắc này trong Hiến pháp 1992 sửa đổi năm 2013
Nguồn gốc của nguyên tắc này có từ thời La Mã cổ đại khi vào thế kỷ thứ 6, hoàng đế La Mã Justinian đã ban hành một bản tóm lược luật La Mã được gọi là “Digest of Justinian”, trong đó một quy định về nguyên tắc chung liên quan đến chứng minh mà nội dung của nó là: Trách nhiệm chứng minh thuộc về bên tố cáo, bên khẳng định chứ không phải bên phủ định . Sau đó, trong các triều đại La Mã, nguyên tắc này được áp dụng trong quá trình xét xử hình sự và bắt đầu khẳng định nghiã vụ chứng minh thuộc về bên buộc tội và một hệ quả tất yếu là bị cáo luôn được coi là vô tội. Tuy nhiên, suy đoán vô tội chỉ chính thức được xem như một nguyên tắc mang tính công cụ pháp luật bởi luật gia người Pháp Jean Lemoine nhằm ủng hộ cho một cách suy luận mang tính pháp lý rằng hầu hết mọi người không phải là tội phạm.
Ngày nay, nguyên tắc suy đoán vô tội được nhiều Nhà nước coi là nguyên tắc của tố tụng hình sự, được đánh giá là thành tựu vĩ đại của văn minh pháp lý trong việc bảo vệ quyền con người. Nguyên tắc này đã được công nhận trong Tuyên ngôn Nhân quyền năm 1948 , Công ước quốc tế về Quyền chính trị, dân sự năm 1966 của Liên hiệp quốc . Nguyên tắc suy đoán vô tội được Việt Nam cam kết thực hiện thông qua sự kiện Việt Nam gia nhập Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị ngày 24/9/1982.
Chính vì tầm quan trọng như vậy nên trong những năm qua, nguyên tắc suy đoán vô tội luôn được sự quan tâm, không chỉ được đề cập rất nhiều trong những hội nghị khoa học và các hội nghị về tư pháp mà còn trở thành một yêu cầu bức thiết trong hoạt động xây dựng pháp luật cũng như trong hoạt động thực tiễn.
Qua tìm hiểu, tác giả đồng ý với Thạc sỹ Đinh Thế Hưng – Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật về nội dung chủ yếu của nguyên tắc suy đoán vô tội gồm:
- Không ai có thể bị coi là có tội khi tội phạm do họ thực hiện chưa được chứng minh theo đúng các quy định của BLTTHS và chưa được xác định bằng bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật của tòa. Hình phạt là do tòa quyết định. Một người sẽ không phải chịu hình phạt nếu trong bản án kết tội của tòa đối với người đó tuyên miễn hình phạt.
- Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng. Bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh mình vô tội
- Buộc tội phải dựa trên chứng cứ. Các quyết định của cơ quan tố tụng phải dựa trên các chứng cứ khẳng định chắc chắn về lỗi của người bị buộc tội trong việc thực hiện tội phạm. Mọi nghi ngờ về lỗi của bị can, bị cáo nếu không thể loại trừ theo trình tự, thủ tục luật định và khi chưa có sự thống nhất trong việc giải thích, áp dụng các quy phạm pháp luật đều phải giải quyết theo hướng có lợi cho họ.
Ở Việt Nam, trong quá trình cải cách tư pháp, việc ghi nhận và áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội sẽ tạo ra nhiều lợi thế cho một quy trình tố tụng tiến bộ, phù hợp với cải cách tư pháp. Bởi lẽ nguyên tắc này có mối quan hệ chặt chẽ với nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo và nguyên tắc tranh tụng.
2. Nguyên tắc suy đoán vô tội trong Hiến pháp Việt Nam sửa đổi năm 2013.
Trên cơ sở những tư tưởng tiến bộ trong Điều 11 Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948 “Một người bị buộc tội về hình sự, đều có quyền được coi là vô tội cho đến khi được chứng minh là phạm tội theo pháp luật, tại một phiên tòa xét xử công khai, nơi người đó được bảo đảm những điều kiện cần thiết để bào chữa cho mình...” và Điều 14 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 của Liên hiệp quốc “Người bị cáo buộc là phạm tội hình sự có quyền được coi là vô tội cho tới khi hành vi phạm tội của người đó được chứng minh theo pháp luật...”. Ở nước ta, nguyên tắc suy đoán vô tội mặc dù chưa được công nhận một cách chính thức nhưng tư tưởng của nguyên tắc này đã được đề cập trong một số văn bản quy phạm pháp luật. Thông tư số 2252/HCTP ngày 29/10/1953 đã hướng dẫn: “Không nên có định kiến rằng hễ người bị truy tố là nhất định có tội mà đối xử như người có tội; bị can trước khi tuyên án được coi như vô tội để toà án có thái độ hoàn toàn khách quan”. Thông tư số 16/TATC ngày 27/9/1974 của Toà án Nhân dân tối cáo đã đưa ra hướng dẫn có tính nguyên tắc trong hoạt động xét xử của toà án như sau: “Việc xét hỏi tại phiên toà nhằm trực tiếp và công khai thẩm tra lại các chứng cứ của vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử phải xét hỏi một cách đầy đủ, khách quan, cần tránh tư tưởng quá tin vào hồ sơ mà coi nhẹ tác dụng của việc xét hỏi tại phiên toà, hoặc cho rằng xét hỏi chỉ nhằm buộc tội bị can phải nhận những lời mà họ đã khai ở cơ quan điều tra”.
Chúng ta đang xây dựng nhà nước pháp quyền của dân do dân và vì dân - một nhà nước mà ở đó, quyền con người được thừa nhận, tôn trọng và bảo vệ. Điều đó đòi hỏi hệ thống pháp luật cần phải được hoàn thiện. Trong đó, những tư tưởng pháp lý tiến bộ được quốc tế thừa nhận như giá trị chung của văn minh nhân loại phải được nghiên cứu và ghi nhận về mặt lập pháp. Vì thế, việc ghi nhận cụ thể, đầy đủ nguyên tắc suy đoán vô tội như là nguyên tắc cơ bản là đòi hỏi cấp thiết.
Với tư cách là một đạo luật cơ bản của một Nhà nước, tại Điều 72 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 sửa đổi năm 2001, nội dung của nguyên tắc suy đoán vô tội đã được đề cập:
“Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
Người bị bắt, bị tạm giữ, bị truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự. Người làm trái pháp luật trong việc bắt, giam giữ, truy tố, xét xử gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý nghiêm minh”
Trong quá trình sửa đổi và thông qua Hiến pháp năm 2013, vấn đề “Quyền con người” lần đầu tiên được hiến định với tên gọi của Chương II “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân”. Tinh thần của nguyên tắc suy đoán vô tội cũng được xác định một cách rõ hơn trong Điều 31 với 5 khoản, trong đó, khoản 1 quy định “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”. Đó là một bước phát triển mới trong việc hiến định quyền con người trong lịch sử lập hiến của Nhà nước ta.
Điều 31 Hiến pháp sửa đổi năm 2013 quy định:
“1. Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật
2. Người bị buộc tội phải được Tòa án xét xử kịp thời trong thời hạn luật định, công bằng, công khai. Trường hợp xét xử kín theo quy định của luật thì việc tuyên án phải được công khai
3. Không ai bị kết án hai lần về một tội phạm
4. Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa.
5. Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự. Người vi phạm pháp luật trong việc bắt, giam, giữ, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý theo pháp luật ”.
Qua tìm hiểu, tác giả thấy nguyên tắc suy đoán vô tội trong Điều 31 Hiến pháp sửa đổi năm 2013 thể hiện như sau:
2.1. Chủ thể có quyền được áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội trong Điều 31 Hiến pháp 2013.
Nghiên cứu quy định tại khoản 1 Điều 31 Hiến pháp năm 2013, so sánh với quy định tại khoản 1 Điều 72 Hiến pháp 2001 chúng ta có thể thấy rằng: Tại khoản 1 Điều 31 của Hiến pháp 2013, phạm vi chủ thể có quyền được suy đoán vô tội đã được chỉ rõ là “Người bị buộc tội” thay vì từ “Không ai” như trước. Quy định mới này có sự tương đồng với Điều 14 Công ước quốc tế đã viện dẫn ở trên. “Người bị buộc tội” là một khái niệm mới, hiện đang được tranh luận trong khoa học luật tố tụng hình sự. Theo quan điểm của tác giả, cần hiểu “người bị buộc tội” được quyền suy đoán vô tội là người được các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng một trong những giai đoạn được quy định trong BLTTHS. BLTTHS hiện hành quy định các giai đoạn: Giai đoạn tiếp nhận, xử lý tin báo, tố giác về tội phạm; Giai đoạn điều tra; Giai đoạn truy tố; Giai đoạn xét xử. Trong mỗi giai đoạn tương ứng, “ người bị buộc tội” là: Người bị tình nghi, người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị tạm giam, bị can, bị cáo.
2.2. Nội dung nguyên tắc suy đoán vô tội trong Điều 31 Hiến pháp 2013
Thứ nhất: Nếu như khoản 1 Điều 72 Hiến pháp cũ quy định “ Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”. Như vậy, chỉ cần một điều kiện là có bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì một người bị coi là có tội và chịu hình phạt. Nhưng Hiến pháp sửa đổi năm 2013 đã nhấn mạnh và chỉ rõ, một người bị kết tội phải có 02 điều kiện: Một là, phải tuân theo một trình tự luật định vàhai là, có bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án.
Để đảm bảo cho nguyên tắc suy đoán vô tội, Hiến pháp mới ghi nhận các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, trước hết khi thực hiện các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử phải theo đúng trình tự luật định. Nguyên tắc suy đoán vô tội đòi hỏi bất cứ tội phạm nào cũng phải được chứng minh theo trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng hình sự quy định. Quá trình chứng minh tội phạm được thực hiện từ khi có tố giác, tin báo về tội phạm và thông qua các thủ tục khởi tố vụ án, khởi tố bị can, tiến hành các hoạt động điều tra, kết thúc điều tra đề nghị truy tố, truy tố bằng bản cáo trạng và tiến hành xét xử, điều tra công khai tại phiên tòa. Cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm thu thập chứng cứ để chứng minh tội phạm, nhưng phải tuân thủ các trình tự đã được quy định trong luật, như quy định thời hạn giải quyết tin báo, tố giác tội phạm, thời hạn điều tra, truy tố, xét xử; quy định về đảm bảo quyền của người bị bắt, người bị tạm giữ, tạm giam, bị can, bị cáo; quy đinh về trình tự thu thập chứng cứ…. Việc ghi nhận nguyên tắc suy đoán vô tội nhằm khắc phục sự định kiến của các cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đối với người bị tình nghi, người bị tạm giữ, tạm giam, bị can, bị cáo đồng thời còn tạo điều kiện để những người này thực hiện quyền bào chữa của mình.
Một điểm khác biệt nữa giữa nguyên tắc suy đoán vô tội trong Hiến pháp 2001 và Hiến pháp năm 2013 ở chỗ: Hiến pháp mới đã bỏ đi cụm từ “và phải chịu hình phạt” để bảo đảm tính thống nhất và chặt chẽ với Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi năm 2009 về miễn hình phạt (Điều 54) vì phải bao quát hai trường hợp có hậu quả pháp lý khác nhau:
a) Một người phạm tội và đến khi xét xử, trong bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Tòa án, người đó bị coi là có tội và bị áp dụng hình phạt;
b) Một người phạm tội nhưng đến khi xét xử, trong bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Tòa án, người đó bị coi là có tội nhưng không bị áp dụng hình phạt mà được miễn hình phạt.
Thứ hai: Toà án có chức năng xét xử về hình sự. Tòa án là nới đánh giá các chứng cứ một cách công khai và chính thức để ra những phán quyết về sự việc phạm tội và hành vi phạm tội, đồng thời quyết định áp dụng hình phạt phù hợp với tình chất và mức độ của hành vi do người phạm tội thực hiện. Vì vậy, một người chỉ bị coi là có tội và bị áp dụng hình phạt khi Toà án đã xem xét, đánh giá chứng chính thức tại phiên tòa và có đủ cơ sở để kết luận hành vi của họ đã cấu thành tội phạm theo các điều, khoản của Bộ luật hình sự.Nếu có căn cứ để kết tội thì Tòa án sẽ ra bản án kết tội. Trong trường hợp Bản án kết tội không bị kháng cáo, kháng nghị thì bản án đó có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Trong trường hợp bản án kết tội có kháng cáo hoặc kháng nghị thì bản án đó chưa có hiệu lực pháp luật và vụ án bắt buộc phải được xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày Hội đồng xét xử tuyên án. Như vậy, Điều 31 Hiến pháp mới không chỉ khẳng định chỉ Toà án mới có quyền tuyên bố một người phạm một tội nào đó, nguyên tắc suy đoán vô tội còn thể hiện quyền được xét xử công bằng của bất kỳ người bị buộc tội nào: “2. Người bị buộc tội phải được Tòa án xét xử kịp thời trong thời hạn luật định, công bằng, công khai. Trường hợp xét xử kín theo quy định của luật thì việc tuyên án phải được công khai. 3. Không ai bị kết án hai lần về một tội phạm”. Việc bổ sung hai khoản trên trong Điều 31 nhằm bảo đảm nguyên tắc pháp chế XHCN và quyền được xét xử công bằng được ghi nhận trong Điều 10 Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948 “Mọi người đều bình đẳng về quyền được xét xử công bằng và công khai bởi một Tòa án độc lập và khách quan để xác định các quyền và nghĩa vụ của họ, cũng như bất cứ sự buộc tội nào đối với họ”.
Thứ ba: Nguyên tắc suy đoán vô tội có quan hệ chặt chẽ với nguyên tắc đảm bảo quyền bào chữa. Bởi vì nếu đã bị coi là có tội ngay từ khi chưa xét xử thì việc thực hiện quyền bào chữa của người bị buộc tội chỉ còn là hình thức. Người bào chữa là người được đào tạo chuyên nghiệp về nghiệp vụ bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của bị cáo. Họ được nghiên cứu hồ sơ vụ án trên cơ sở am hiểu các quy định của pháp luật và được bị cáo hoặc gia đình bị cáo ủy quyền để bảo vệ cho các quyền và lợi ích chính đáng của bị cáo. Sự có mặt của người bào chữa nhằm đưa ra các luận cứ chứng minh sự vô tội của bị cáo hoặc đưa ra các lập luận đồng ý hay không đồng ý với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát về tội danh cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà Viện kiểm sát buộc tội. Đảm bảo quyền bào chữa là cơ sở quan trọng để bảo vệ quyền con người. Do đó, Điều 31 Hiến pháp sửa đổi quy định: “4. Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa”.
Ngoài ra, Điều 31 Hiến pháp sửa đổi đã bổ sung chính xác các giai đoạn tố tụng và thuật ngữ thống nhất trong Bộ luật tố tụng hình sự về người bị bắt, người bị tạm giữ, tạm giam về việc tôn trọng quyền con người của những người này. Khi họ bị điều tra, truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự. Còn người nào làm trái pháp luật trong việc bắt, tạm giữ, tạm giam, điều tra, truy tố, xét xử gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý theo pháp luật.
Nguyên tắc suy đoán vô tội được Hiến pháp sửa đổi năm 2013 ghi nhận trong Điều 31, thuộc chương II – Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Đây không chỉ đơn thuần là việc đổi mới về kỹ thuật lập pháp đã tiếp cận các chuẩn mực quốc tế, thể hiện việc Đảng và Nhà nước ta tôn trọng và thực hiện Công ước quốc tế mà còn thể hiện sự quan tâm, nỗ lực của Đảng và Nhà nước ta trong việc đảm bảo quyền con người.
3. Trách nhiệm của ngành trong việc triển khai thi hành nguyên tắc “Suy đoán vô tội” trong Hiến pháp sửa đổi.
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 28 tháng 11 năm 2013, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2014. Với mục đích nâng cao nhận thức của các tầng lớp nhân dân, xác định trách nhiệm của các cơ quan, bảo đảm các quy định của Hiến pháp được tôn trọng và nghiêm chỉnh chấp hành, Ủy ban thường vụ Quốc hội căn cứ Nghị quyết số 64/2013/QH13 của Quốc hội quy định một số điểm thi hành Hiến pháp, Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành Kế hoạch tổ chức triển khai thi hành Hiến pháp. Trên cơ sở đó, để triển khai thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội được quy định tại Điều 31 Hiến pháp sửa đổi năm 2013, ngành Kiểm sát nhân dân cần tập trung làm tốt những nhiệm vụ sau:
3.1. Nâng cao chất lượng Thực hành quyền công tố và Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự.
Để thực hiện được việc đó, trước hết mỗi cán bộ kiểm sát cần phải nắm chắc các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, các văn bản hướng dẫn dưới luật và những văn bản hướng dẫn của ngành. Qua đó, trong quá trình kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử, kiểm sát viên nắm chắc các tình tiết chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đánh giá một cách khách quan, toàn diện trên cơ sở các quy định của pháp luật. Một trong những nội dung cuả nguyên tắc suy đoán vô tội đó là trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng, trong đó Viện kiểm sát là cơ quan kiểm sát hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra. Điều này có nghĩa là khi đưa vụ án ra xét xử, Viện kiểm sát phải đảm bảo rằng tất cả những chứng cứ buộc tội bao gồm nhân chứng và vật chứng phải được đảm bảo một cách đầy đủ, khách quan nhất và không để lại bất cứ sự nghi ngờ hay mâu thuẫn nào thì khi đó mới có đủ cơ sở để buộc tội. Đặc biệt là trong giai đoạn điều tra, thu thập chứng cứ, lấy lời khai, quyền lợi của nghi phạm, bị can phải hoàn toàn được đảm bảo như một công dân vô tội.
3.2. Góp ý xây dựng nguyên tắc suy đoán vô tội trong dự thảo BLTTHS để phù hợp với Hiến pháp sửa đổi 2013
Trong các quy định hiện hành cũng như thực tiễn áp dụng của nước ta về tố tụng hình sự, nguyên tắc suy đoán vô tội vẫn chưa thực sự được đảm bảo tuân thủ triệt để. Trong BLTTHS, nguyên tắc suy đoán vô tội vẫn chưa được ghi nhận và được quy định thành một điều luật rõ ràng. Để đảm bảo tính thống nhất giữa Hiến pháp sửa đổi 2013 và BLTTHS, qua tìm hiểu BLTTHS hiện hành, tác giả thấy còn những điểm chưa thống nhất với Hiến pháp sửa đổi 2013 như sau:
Thứ nhất: Tại Điều 9 của BLTTHS hiện hành quy định: “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật.” Quy định này đã không còn phù hợp với Hiến pháp 2013 và BLHS hiện hành. Bởi vì, một người bị coi là có tội thì có thể phải chịu hình phạt nếu bản án kết tội của Tòa án đối với người đó có quyết định hình phạt, nhưng một người bị coi là có tội cũng có thể không phải chịu hình phạt nếu bản án kết tội của Tòa án có tuyên miễn hình phạt đối với người đó. Như vậy, suy đoán vô tội chỉ bao hàm nội dung suy đoán một người không bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật chứ không cần phải có thêm việc suy đoán một người không phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Hình phạt là do Tòa án quyết định. Một người sẽ không phải chịu hình phạt nếu trong bản án kết tội của Tòa án đối với người đó tuyên miễn hình phạt chứ không phải là đối với người đó không có bản án kết tội.
Thứ hai: Tại Điều 10 của BLTTHS quy định về nguyên tắc xác định sự thật của vụ án như sau: “Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng. Bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội”.
Nội dung của quy định này không thuộc về nguyên tắc xác định sự thật vụ án mà thuộc về nội dung của nguyên tắc suy đoán vô tội. Bởi vì, cùng với việc khẳng định một người không thể bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì cũng có nghĩa thừa nhận người bị buộc tội không có nghĩa vụ phải chứng minh sự vô tội của mình. Để xác định một người là người phạm tội, trên cơ sở đó truy cứu, áp dụng trách nhiệm hình sự, các cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án) phải chứng minh được người đó là người thực hiện hành vi bị Luật hình sự coi là tội phạm. Nếu không chứng minh được một người đã thực hiện tội phạm thì không thể kết tội người đó. Trên thực tế, có thể một người đã thực hiện tội phạm. Về khách quan, họ là người phạm tội, nhưng nếu không chứng minh được người đó đã thực hiện hành vi được Luật hình sự coi là tội phạm, thì các cơ quan tiến hành tố tụng cũng không thể truy cứu, áp dụng trách nhiệm hình sự đối với người đó. Chứng minh tội phạm là một quá trình. Quá trình đó diễn ra ở cả giai đoạn điều tra, giai đoạn truy tố và giai đoạn xét xử. Quyền và trách nhiệm chứng minh tội phạm không chỉ thuộc về Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát mà còn thuộc về Tòa án.
Thứ ba: Hiện nay, pháp luật tố tụng hình sự nước ta không quy định cụ thể nhưng đã gián tiếp thừa nhận quyền im lặng của người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Bởi lẽ, theo các quy định của pháp luật hình sự, việc người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo không khai nhận hành vi phạm tội của mình thì cũng không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội từ chối khai báo theo quy định tại Điều 308 của BLHS và cũng không bị coi là có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 48 của BLHS. Trong trường hợp bị can, bị cáo thành khẩn khai báo thì lại được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thậm chí trong giai đoạn điều tra họ không khai báo hoặc khai báo gian dối nhưng tại phiên tòa lại thành khẩn khai báo thì họ vẫn được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “thành khẩn khai báo” theo quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 của BLHS. Trường hợp bị cáo khai báo gian dối thì họ cũng không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội khai báo gian dối theo quy định tại Điều 307 của BLHS.
Tóm lại, BTTHS 2003 đã có những quy định rất tiến bộ khi đảm bảo cho quyền lợi cuả bị can, bị cáo, người bị tạm giam, tạm giữ cũng như nghĩa vụ của những người tiến hành tố tụng trong việc đảm bảo các quyền lợi ấy. Thế nhưng, xét về tổng thể, nguyên tắc suy đoán vô tội nhìn chung vẫn chưa được đảm bảo một cách toàn diện trong những quy định pháp luật cũng như thực tiễn ứng dụng. Vì thế, trong phạm vi bài viết này, tác giả thấy rằng trước hết, nguyên tắc suy đoán vô tội phải được ghi nhận trong BLTTHS như một nguyên tắc cơ bản nhất cuả hoạt động tố tụng hình sự nhằm mục đích nhấn mạnh tầm quan trọng cuả nguyên tắc này cũng như nhắc nhở những người tiến hành tố tụng phải tuyệt đối tôn trọng. Theo đó, quyền im lặng của người bị tình nghi, bị can, bị cáo trong mọi giai đoạn phải được ghi nhận như một nguyên tắc tố tụng chính thức và nhấn mạnh rõ quyền này sẽ không bị cản trở bởi người tiến hành tố tụng.
3.3. Trong công tác tuyên truyền, phổ biến Hiến pháp sửa đổi 2013
Trong phạm vi của ngành, cần tổ chức các hội nghị tập huấn để tuyên truyền đến các cán bộ trong ngành về nội dung, vai trò của nguyên tắc suy đoán vô tội và quy định mới của Hiến pháp có liên quan đến nguyên tắc suy đoán vô tội. Qua đó, góp phần nâng cao nhận thức của các cán bộ để công tác thực tiễn đạt hiệu quả cao.
Trên đây là quan điểm của tôi trong quá trình nghiên cứu và tìm hiểu nguyên tắc suy đoán vô tội trong Hiến pháp sửa đổi năm 2013./.
Trương Thị Thanh Nhàn – VKSND huyện An Dương