Sự cần thiết của việc nghiên cứu về quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo theo quy định của Bộ luật TTHS năm 2003

      Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 26/11/2003 và có hiệu lực thi hành từ 01/7/2004 đã kế thừa và phát huy những giá trị tích cực của BLTTHS năm 1988. Trong đó, vấn đề bảo đảm quyền con người nói chung, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nói riêng là một trong những tư tưởng xuyên suốt trong các quy định của BLTTHS năm 2003.

Ảnh minh họa: Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam 2003

      1. Quy định về quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam

      BLTTHS năm 2003 được Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 26/11/2003 và có hiệu lực thi hành từ 01/7/2004 đã kế thừa và phát huy những giá trị tích cực của BLTTHS năm 1988. Trong đó, vấn đề bảo đảm quyền con người nói chung, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nói riêng là một trong những tư tưởng xuyên suốt trong các quy định của BLTTHS năm 2003.

      So với BLTTHS 1988, BLTTHS 2003 đã quy định một cách cụ thể, rõ ràng hơn về khái niệm người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo tại các điều 48, 49, 50 BLTTHS năm 2003. Khoản 1 Điều 48 Bộ luật tố tụng hình sự quy định: “Người bị tạm giữ là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú và đối với họ đã có quyết định tạm giữ”. Khoản 1 Điều 49 Bộ luật tố tụng hình sự quy định: "Bị can là người đã bị khởi tố về hình sự". Khoản 1 điều 50 Bộ luật tố tụng hình sự quy định: "Bị cáo là người đã bị Toà án quyết định đưa ra xét xử".

      Như vậy, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là các tên gọi khác nhau ở các giai đoạn tố tụng khác nhau của quá trình tố tụng hình sự.

      Theo quy định tại Khoản 2 Điều 48 Bộ luật tố tụng hình sự: Người bị tạm giữ có quyền:

      a) Được biết lý do mình bị tạm giữ;

      b) Được giải thích về quyền và nghĩa vụ;

      c) Được trình bày lời khai;

      d) Được tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa;

      đ) Đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu;

      e) Khiếu nại về việc tạm giữ, quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng

      Theo quy định tại Khoản 2 Điều 49 Bộ luật tố tụng hình sự: Trong giai đoạn điều tra, truy tố bị can có quyền:

      a) Được biết mình bị khởi tố về tội gì;

      b) Được giải thích về quyền và nghĩa vụ;

      c) Trình bày lời khai;

      d) Đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu;

      đ) Đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch theo quy định của Bộ luật này;

      e) Tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa;

      g) Được nhận quyết định khởi tố; quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn; bản kết luận điều tra; quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ điều tra; quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án; bản cáo trạng, quyết định truy tố; các quyết định tố tụng khác theo quy định của Bộ luật này;

      h) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

      Theo quy định tại Khoản 2 Điều 50 Bộ luật tố tụng hình sự trong giai đoạn xét xử bị cáo có quyền:

      a) Được nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn; quyết định đình chỉ vụ án; bản án, quyết định của Tòa án; các quyết định tố tụng khác theo quy định của Bộ luật này;

      b) Tham gia phiên toà;

      c) Được giải thích về quyền và nghĩa vụ;

      d) Đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch theo quy định của Bộ luật này;

      đ) Đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu;

      e) Tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa;

      g) Trình bày ý kiến, tranh luận tại phiên tòa;

      h) Nói lời sau cùng trước khi nghị án;

      i) Kháng cáo bản án, quyết định của Toà án;

      k) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

      Ngoài các quyền trên người bị tạm giữ, bị can, bị cáo còn có các quyền khác như:

      - Được bảo đảm các quyền công dân khác mà không bị pháp luật hạn chế hoặc nghiêm cấm khi bị tạm giữ hoặc bị xác định là bị can, bị cáo (Điều 4 BLTTHS).

      - Bị can, bị cáo có quyền, nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội (Điều 10 BLTTHS).

      - Được xét xử công khai, trừ trường hợp khác do BLTTHS quy định (Điều 18 BLTTHS)

      - Được quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, đưa ra yêu cầu và tranh luận dân chủ trước Tòa án (Điều 19 BLTTHS).

      - Được sử dụng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình (Điều 24 BLTTHS)

      - Được bồi thường thiệt hại do cơ quan hoặc người có thẩm quyền tiến hành tố tụng gây ra (Điều 30 BLTTHS).

      Đối với bị cáo còn có thêm các quyền:

      - Quyền được xem biên bản phiên tòa, được yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản phiên tòa và ký xác nhận (Điều 200 BLTTHS)

      - Quyền được nhận xét, hỏi thêm về những vấn đề có liên quan đến tài liệu, kết luận giám định của vụ án được công bố tại phiên tòa (Điều 214, Điều 215 BLTTHS)

      2. Cơ chế bảo đảm quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự

      Các quyền nêu trên của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là sự cụ thể hóa các quyền cơ bản của con người, công dân trong tố tụng hình sự. Vì vậy, Nhà nước phải có cơ chế đảm bảo để thực hiện được các quyền đó, đồng thời những cơ quan và người có trách nhiệm phải thực hiện các biện pháp để đảm bảo các quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo được thực hiện trên thực tế, đồng thời đó cũng là một trong những mục tiêu quan trọng của tố tụng hình sự đã được ghi nhận thành các nguyên tắc trong BLTTHS 2003 (Điều 3, 4,5 6, 7, 8…). Bộ luật tố tụng hình sự quy định tương ứng với mỗi giai đoạn tạm giữ, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử một vụ án hình sự đều có các cơ quan tiến hành tố tụng khác nhau thực hiện các hoạt động tố tụng khác nhau.

      Trong giai đoạn tạm giữ và giai đoạn điều tra, chủ thể tiến hành tố tụng chính gồm có Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát (một số trường hợp có các cơ quan được giao thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra như Hải quan, Kiểm lâm, Bộ đội biên phòng, lực lượng Cảnh sát biển), trong đó Cơ quan điều tra trực tiếp tiến hành các hoạt động điều tra còn Viện kiểm sát là cơ quan thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động điều tra nhằm đảm bảo cho hoạt động điều tra được thực hiện đúng quy định của pháp luật.

      Trong giai đoạn truy tố chủ thể tiến hành tố tụng là Viện kiểm sát, là cơ quan đánh giá kết quả hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra để quyết định việc truy tố bị can bằng bản cáo trạng (hoặc quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn). Sau khi Viện kiểm sát chuyển hồ sơ và bản Cáo trạng sang Tòa án thì vụ án chuyển sang giai đoạn xét xử, giai đoạn này có chủ thể tiến hành tố tụng là Viện kiểm sát và Tòa án. Giai đoạn xét xử được chia thành hai giai đoạn nhỏ là giai đoạn chuẩn bị xét xử và giai đoạn xét xử tại phiên tòa. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử Tòa án sẽ đánh giá lại hồ sơ vụ án một lần nữa, nếu đủ căn cứ thì ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử, nếu thấy chưa đủ căn cứ Tòa án có thể quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung. Sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án ấn định ngày giờ xét xử và vụ án chuyển sang giai đoạn xét xử tại phiên tòa.

      Trong các giai đoạn tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng phải có nghĩa vụ bảo đảm các quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, trường hợp vi phạm những quy định của BLTTHS về thủ tục tạm giữ hay trình tự khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử mà xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân thì phải bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi cho người bị oan; trường hợp vi phạm nghiêm trọng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Để việc thực hiện BLTTHS một cách khách quan, nghiêm túc; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia TTHS nói chung và của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nói riêng. Nhà nước giao cho Viện kiểm sát quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc tạm giữ, khởi tố, điều tra, xét xử và thi hành bản án hình sự, đồng thời trực tiếp xem xét, quyết định việc có truy tố hay không truy tố người phạm tội ra trước tòa án để xét xử. Hoạt động kiểm sát tuân theo pháp luật trong TTHS là một trong những nội dung quan trọng trong chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát. Với vai trò, trách nhiệm của mình, Viện kiểm sát vừa phải đảm bảo các quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo được thực hiện trên thực tế, nhưng đồng thời phải phát hiện, ngăn chặn và có biện pháp xử lý các hành vi vi phạm các quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong các giai đoạn của tố tụng hình sự.

      3. Thực trạng thực hiện quyền và những yêu cầu nghiên cứu các quy định về quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo

      Qua thực tiễn 10 năm áp dụng BLTTHS và thực tiễn công tác điều tra, truy tố, xét xử trên địa bàn thành phố Hải Phòng thời gian qua, chúng tôi thấy cần thiết phải nghiên cứu về vấn đề bảo đảm quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự trên địa bàn thành phố Hải Phòng  bởi các lý do sau:

      Một là: qua hơn 10 năm áp dụng BLTTHS cho thấy nhiều quy định trong BLTTHS và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan chưa chặt chẽ, có quy định còn lạc hậu so với sự phát triển của xã hội theo xu hướng hội nhập, chưa phù hợp với thông lệ quốc tế; chế độ tạm giữ, tạm giam; việc tham gia tố tụng của người bào chữa; vấn đề thu thập chứng cứ cũng còn nhiều điểm bất cập làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Mặt khác, ở nhiều địa phương, một số người tiến hành tố tụng lợi dụng sự thiếu chặt chẽ của pháp luật TTHS, đã lạm dụng quyền lực được giao xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo dẫn đến tình trạng oan sai, bức cung, nhục hình. Đáng lưu ý là một số vụ án oan sai xảy ra gần đây như vụ ông Nguyễn Thanh Chấn ở Bắc Giang, vụ án Huỳnh Văn Nén ở Bình Thuận (vụ án Vườn Điều)... để lại những hậu quả về mặt xã hội mà không gì có thể bù đắp nổi, ảnh hưởng đến uy tín của các cơ quan THTT, uy tín của Đảng và Nhà nước.

      Ở Hải Phòng, trung bình hàng năm các cơ quan tiến hành tố tụng hai cấp thụ lý và giải quyết khoảng 2000 vụ án hình sự với hơn 3000 bị can; trong đó có nhiều vụ án phức tạp, đặc biệt nghiêm trọng về an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội đã được các cơ quan THTT điều tra, truy tố và xét xử kịp thời, đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm, góp phần tạo môi trường pháp lý lành mạnh thúc đẩy kinh tế thành phố phát triển. Tuy nhiên, qua tổng kết hoạt động của các cơ quan THTT hai cấp ở Hải Phòng cho thấy bên cạnh những kết quả đạt được; công tác điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan THTT vẫn còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập; cụ thể: một số đơn vị chưa tạo điều kiện thuận lợi để người bào chữa tham gia tố tụng làm ảnh hưởng đến quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; chế độ tạm giữ, tạm giam chưa bảo đảm theo quy định của pháp luật; thời hạn điều tra còn kéo dài, tình trạng hoàn trả hồ sơ giữa các cơ quan THTT mặc dù đã được hạn chế nhưng vẫn chiếm tỷ lệ tương đối cao (Trong 5 năm, Tòa án trả hồ sơ cho Viện kiểm sát 117 vụ, chiếm 17%; Viện kiểm sát trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra 72 vụ, chiếm 0,073%); tỷ lệ tạm giữ hình sự sau phải trả tự do vẫn còn tồn tại  (chiếm khoảng 0,9%); cá biệt vẫn còn xảy ra trường hợp oan sai, phải đình chỉ điều tra bị can vì không phạm tội (trong 5 năm đình chỉ 14 vụ/9 bị can vì không phạm tội)...

      Hai là, trong thời gian vừa qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều Chỉ thị, Nghị quyết, Kết luận chuyên đề về cải cách tư pháp, trong đó có nhiều nội dung liên quan đến vấn đề bảo đảm quyền con người nói chung và quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nói riêng như Nghị quyết 08 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Nghị quyết 48 về chiến lược xây dựng pháp luật đến năm 2020, Nghị quyết 49 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Trong đó Nghị quyết 49 đã có chỉ đạo: Hoàn thiện chính sách pháp luật hình sự và dân sự phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của dân, do dân và vì nhân dân; hoàn thiện các thủ tục tố tụng tư pháp, bảo đảm tính đồng bộ, dân chủ, công khai, minh bạch, tôn trọng và bảo đảm quyền con người. Thành ủy Hải Phòng cũng đã ban hành Kế hoạch số 04 ngày 20/7/2006 về việc triển khai thực hiện Nghị quyết 49 trong đó yêu cầu các cơ quan tiến hành tố tụng nâng cao chất lượng điều tra, truy tố, xét xử; nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp tạo môi trường thuận lợi về an ninh, trật tự cho sự phát triển kinh tế, xã hội của thành phố.

      Ba là: tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa 13 đã thông qua Hiến pháp năm 1992 sửa đổi, bổ sung (gọi tắt là Hiến pháp năm 2013). Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định sự kế thừa có chọn lọc những giá trị bất biến về quyền con người, quyền công dân được ghi nhận trong các Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền và các bản Hiến pháp của Nhà nước Việt Nam trước đây. Trong nhiều nội dung mới được ghi nhận, lần đầu tiên, vấn đề quyền con người đã được Hiến pháp đề cập một cách trực tiếp, tách bạch và không đồng nhất với quyền công dân và đưa lên Chương 2 của Hiến pháp năm 2013 (Trong Hiến pháp 1992, vấn đề này được quy định tại chương 5 về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân). Đây cũng là một điểm mới, thể hiện tầm quan trọng của quyền con người trong Hiến pháp. Với việc ghi nhận trong Hiến pháp về quyền con người đã đảm bảo phù hợp với các điều ước quốc tế về quyền con người mà nước ta tham gia ký kết. Hiến pháp đã làm rõ hơn các quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân và trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm thực hiện quyền con người, quyền công dân. Và đặc biệt lần đầu tiên Hiến pháp ghi nhận việc bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử (Điều 103); Đồng thời giao cho Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân nhiệm vụ bảo vệ quyền con người, quyền công dân.

      Bốn là: Về tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài. Cụ thể như sau:

      Tình hình nghiên cứu trong nước, đến nay đã có một số công trình nghiên cứu ở cấp độ Thạc sĩ, Tiến sĩ, đề tài khoa học cấp Bộ, các bài nghiên cứu trên các tạp chí chuyên ngành của các nhà khoa học, những người làm công tác thực tiễn về quyền con người nói chung và quyền con người trong TTHS nói riêng như: Đề tài cấp Bộ Bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự Việt Nam của PGS.TS. Nguyễn Thái Phúc – Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh; Báo cáo khoa học Hoàn thiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp của PGS.TS Trần Văn Độ, tài liệu Hội thảo quốc tế về quyền con người trong tố tụng hình sự, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao – Uỷ ban nhân quyền Australia, Hà Nội tháng 3/2010; Bài nghiên cứu Bảo vệ quyền con người bằng pháp luật tố tụng hình sự của tác giả Nguyễn Ngọc Chí, Tạp chí Khoa học – Kinh tế - Luật 23 (2007); Bài nghiên cứu Xu hướng tăng cường bảo vệ quyền con người trong tư pháp hình sự Việt Nam thông qua nguyên tắc suy đoán vô tội của PGS.TS Phạm Văn Tỉnh, Tạp chí Kiểm sát số 09 (tháng 5/2010); Luận án Tiến sĩ Luật học Bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam của tác giả Lại Văn Trình, Trường đại học Luật TP Hồ Chí Minh, năm 2011... Tuy nhiên, trong các công trình này, các tác giả mới chủ yếu nghiên cứu khái niệm về quyền con người và việc bảo vệ quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nói chung; chưa có công trình nào nghiên cứu một cách chuyên sâu, toàn diện về việc đảm bảo tất cả các quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Vì đối với những người bị tạm giữ, bị can, bị cáo ngoài các quyền con người cơ bản như quyền được sống (ăn, mặc, ở..), được tự do, được mưu cầu hạnh phúc…; họ còn có những quyền khác trong quá trình bị tạm giữ, điều tra, truy tố, xét xử cần phải được đảm bảo như quyền được bào chữa, nhờ người khác bào chữa, quyền được biết mình bị tạm giữ, bị khởi tố về tội gì, quyền được đưa ra tài liệu chứng cứ… Nếu xét về nội hàm, quyền của người bị tạm giữ, bị can bị cáo trong tố tụng hình sự sẽ rộng hơn quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự.

      Tình hình nghiên ở ngoài nước có các công trình: Quyền con người trong quản lý tư phápTài liệu hướng dẫn quyền con người dành cho Thẩm phán, Công tố viên và Luật sư  – Văn phòng Cao uỷ Liên hiệp quốc về quyền con người và Hội Luật gia quốc tế, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, 2009; James Wood[1] Tổng quan về bảo đảm quyền con người trong hệ thống tư pháp hình sự Australia, tài liệu Hội thảo quốc tế về quyền con người trong tố tụng hình sự, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao – Uỷ ban nhân quyền Australia, Hà Nội tháng 3/2010; Christopher Maxwell[2] Nhân quyền và quá trình thực hành quyền công tố, tài liệu Hội thảo quốc tế về quyền con người trong tố tụng hình sự, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao – Uỷ ban nhân quyền Australia, Hà Nội tháng 3/2010; Văn phòng cao uỷ liên hiệp quốc về quyền con người và Hội Luật sư quốc tế - Quyền con người trong quản lý tư pháp – tài liệu hướng dẫn quyền con người dành cho Thẩm phán, Công tố viên và Luật sư, NXB Công an nhân dân, Hà Nội năm 2009... Các công trình này cũng chủ yếu nghiên cứu về quyền con người nói chung (trong đó có quyền của người bị tình nghi) trong pháp luật quốc tế; nghiên cứu cơ chế hoạt động của Điều tra viên, Thẩm phán, Công tố viên và Luật sư trong việc bảo đảm quyền con người trong hoạt động tư pháp, chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về việc đảm bảo quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự nói riêng.

      Ở Hải Phòng, thực hiện Kế hoạch số 04-KH/TU ngày 20/7/2006 của Thành ủy về việc triển khai thực hiện Nghị quyết 49, các cơ quan tư pháp thành phố đã tổ chức nhiều Hội thảo, Hội nghị, các công trình nghiên cứu khoa học, trong đó có một số công trình nghiên cứu về lĩnh vực tư pháp hình sự có đề cập tới những khía cạnh hẹp của việc đảm bảo quyền. Đáng lưu ý là một số công trình: Công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự trên địa bàn thành phố Hải Phòng – thực trạng và giải pháp -  Đề tài cấp thành phố, do Th.s Lương Văn Thành – Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố làm Chủ nhiệm đề tài; Thủ tục rút gọn theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 – Thực tiễn áp dụng và kiến nghị hoàn thiện, Đề tài cấp Bộ, do TS. Nguyễn Văn Quảng – Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố làm Chủ nhiệm đề tài; Hội thảo Hoàn thiện các quy định về quyền của bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam – của Viện kiểm sát nhân dân thành phố với sự tham gia của Viện Khoa học Kiểm sát – Viện kiểm sát nhân dân Tối cao, chuyên gia pháp luật thuộc dự án JICA – Nhật Bản, chuyên gia về tố tụng hình sự - Trường Đại học Luật Hà Nội; lãnh đạo các cơ quan THTT hai cấp của Hải Phòng, lãnh đạo Đoàn Luật sư thành phố Hải Phòng… Những công trình nghiên cứu nêu trên chưa có nghiên cứu toàn diện, chuyên sâu về những biện pháp đảm bảo quyền của người tạm giữ, bị can, bị cáo trong điều kiện và yêu cầu mới đang đặt ra.

      Chính vì vậy, việc nghiên cứu, thảo luận về vấn đề bảo đảm quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trên địa bàn thành phố Hải Phòng là cần thiết cả về mặt lý luận và thực tiễn./.

Nguyễn Sơn Hà - Phó Viện trưởng VKSND TP Hải Phòng



[1] Chủ tịch Uỷ ban cải cách pháp luật bang New South Wales, Australia

[2] Công tố viên cao cấp bang New South Wales, Australia

 

Ứng dụng hỗ trợ nghiệp vụ

Tin tức
Thông tin cần biết
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1

Trang thông tin điện tử: VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG - Cơ quan chủ quản: VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO
Địa chỉ: Lô 18A, Lê Hồng Phong, P. Hải An, TP Hải Phòng - Điện thoại: 02253.838308 - Fax: 02253.839072 - Email: vp_haiphong@vks.gov.vn
Trưởng ban biên tập: Phó Viện trưởng Nguyễn Mạnh Vỹ
Số giấy phép: 03/GP-STTTT do Sở Thông tin và Truyền thông TP Hải Phòng cấp ngày 17 tháng 10 năm 2017 (Giấy phép có giá trị 10 năm)
Bản quyền thuộc về VKSND TP Hải Phòng - Thiết kế bởi VNPT | Quản trị

Chung nhan Tin Nhiem Mang