Tạm đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015
Ảnh minh họa
Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án trong các trường hợp được quy định tại Khoản 1 Điều 214 Bộ luật TTDS 2015. Đó là các căn cứ sau đây:
a) Đương sự là cá nhân đã chết, cơ quan, tổ chức đã hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể mà chưa có cơ quan, tổ chức, cá nhân kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức, cá nhân đó;
Trường hợp đương sự là cá nhân đã chết chưa có cá nhân khác có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự theo quy định Khoản 2, 3 Điều 69 Bộ luật này kế thừa tham gia tố tụng.
Trường hợp cơ quan, tổ chức đã hợp nhất, sáp nhập, chia, tách mà chưa có cơ quan, tổ chức kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng đó là trường hợp đã có quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền về việc hợp nhất, sáp nhập, chia, tách cơ quan, tổ chức đó, nhưng cơ quan, tổ chức mới chưa được thành lập hoặc đã được thành lập nhưng chưa có đầy đủ điều kiện để hoạt động theo quy định của pháp luật đối với loại hình cơ quan, tổ chức đó.
Trường hợp cơ quan, tổ chức đã giải thể mà chưa có cơ quan, tổ chức kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức đó là trường hợp chưa xác định được cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại điểm a, b Khoản 2, Khoản 5 Điều 74 của Bộ luật này.
b) Đương sự là cá nhân mất năng lực hành vi dân sự, người chưa thành niên mà chưa xác định được người đại diện theo pháp luật;
So với Bộ luật tố tụng Dân sự 2011, Bộ luật này đã mở rộng thêm diện đương sự là người chưa thành niên cho phù hợp với các quy định pháp luật khác.
Như vậy, đại diện hợp pháp của đương sự, của người chưa thành niên bao gồm đại diện theo pháp luật và đại diện theo ủy quyền, được quy định tại Điều 136 (Đại diện theo pháp luật của cá nhân); Điều 137 (Đại diện theo pháp luật của pháp nhân) và Điều 138 (Đại diện theo ủy quyền) của Bộ luật Dân sự 2015. Người đại diện phải có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập, thực hiện.
c) Chấm dứt đại diện hợp pháp của đương sự mà chưa có người thay thế;
Việc chấm dứt đại diện hợp pháp ở đây là do pháp nhân hoặc cá nhân chấm dứt hoặc thời hạn ủy quyền đã hết; người ủy quyền hủy bỏ việc ủy quyền hoặc người được ủy quyền từ chối thực hiện việc ủy quyền… mà chưa có người thay thế.
d) Cần đợi kết quả giải quyết vụ án khác có liên quan hoặc sự việc được pháp luật quy định là phải do cơ quan, tổ chức khác giải quyết trước mới giải quyết được vụ án;
Là trường hợp mà kết quả giải quyết vụ án dân sự, hình sự, hành chính, kinh doanh thương mại, lao động đó; hoặc kết quả giải quyết của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền là cơ sở để xác định thẩm quyền của Tòa án, xác định quyền khởi kiện đối với vụ án, xác định địa vị pháp lý, xác định người tham gia tố tụng, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp hoặc là căn cứ khác để Tòa án giải quyết vụ án này một cách toàn diện, chính xác và đúng pháp luật.
Như vậy, vụ án khác có liên quan đến vụ án mà Tòa án đang giải quyết phải là các vụ việc dân sự, vụ án hình sự, hành chính, kinh doanh thương mại, lao động. Sự việc được pháp luật quy định phải là sự việc có ảnh hưởng trực tiếp đến việc giải quyết vụ án mà Tòa án đang thụ lý, nếu không được cơ quan, tổ chức khác giải quyết trước thì việc giải quyết của Tòa án đối với vụ án này là vi phạm pháp luật.
đ) Cần đợi kết quả thực hiện ủy thác tư pháp, ủy thác thu thập chứng cứ hoặc đợi cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án mới giải quyết được vụ án;
Như vậy, trong vụ án khi phải thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp hoặc cần đợi kết quả thực hiện ủy thác tư pháp hoặc chưa nhận được các tài liệu, chứng cứ từ cơ quan, tổ chức mà thời hạn chuẩn bị xét xử (kể cả trường hợp đã gia hạn) đã hết hoặc cần phải yêu cầu cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu, chứng cứ mới giải quyết được vụ án. Đây là căn cứ phù hợp với yêu cầu của thực tiễn giải quyết vụ án, nên Tòa án phải ra quyết định tạm đình chỉ.
e) Cần đợi kết quả xử lý văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên mà Tòa án đã có văn bản kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ;
Như vậy, theo quy định tại Điều 221 của Bộ luật TTDS 2015 trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, nếu phát hiện văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến việc giải quyết vụ án dân sự có dấu hiệu trái với Hiến pháp, Luật, Nghị quyết của Quốc hội, Pháp lệnh, Nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên thì Thẩm phán được phân công giải quyết báo cáo và đề nghị Chánh án Tòa án đang giải quyết vụ án có văn bản đề nghị Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật. Trong thời hạn 1 tháng, kể từ ngày nhận được văn bản kiến nghị của Tòa án, cơ quan có thẩm quyền phải có văn bản trả lời. Hết thời hạn này mà cơ quan có thẩm quyền không có văn bản trả lời, thì Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung. Quy định này nhằm bảo đảm cho Toà án giải quyết vụ án đúng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân theo đúng quy định của Hiến pháp năm 2013.
g) Theo quy định tại Điều 41 của Luật phá sản;
Đó là trường hợp Tạm đình chỉ giải quyết yêu cầu doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán thực hiện nghĩa vụ về tài sản, quy định như sau:
“Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án nhân dân thụ lý vụ việc phá sản, việc tạm đình chỉ thực hiện nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán được thực hiện như sau:
1. Cơ quan thi hành án dân sự phải tạm đình chỉ thi hành án dân sự về tài sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã là người phải thi hành án, trừ bản án, quyết định buộc doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán bồi thường về tính mạng, sức khỏe, danh dự hoặc trả lương cho người lao động. Việc tạm đình chỉ được thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự;
2. Tòa án nhân dân, Trọng tài phải tạm đình chỉ việc giải quyết vụ việc dân sự, kinh doanh, thương mại, lao động có liên quan đến nghĩa vụ tài sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã là một bên đương sự. Thủ tục tạm đình chỉ được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự và pháp luật về trọng tài thương mại.
Tòa án nhân dân phải tách và tạm đình chỉ giải quyết phần dân sự trong vụ án hình sự, hành chính liên quan đến nghĩa vụ tài sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã là một bên đương sự. Thủ tục tách và tạm đình chỉ được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự, tố tụng hành chính;
3. Cơ quan, tổ chức có thẩm quyền tạm đình chỉ việc xử lý tài sản bảo đảm của doanh nghiệp, hợp tác xã đối với các chủ nợ có bảo đảm.
Trường hợp tài sản bảo đảm có nguy cơ bị phá hủy hoặc bị giảm đáng kể về giá trị thì xử lý theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 53 của Luật này.”
h) Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.
Đây là quy định mở mà Bộ luật tố tụng dân sự 2015 chưa quy định, nhưng phát sinh lý do mà Tòa án cần thiết phải ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án dân sự mới bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc , kể từ ngày ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự , Tòa án phải gửi quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự cho đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện và Viện kiểm sát cùng cấp. Như vậy, so với Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (được sửa đổi, bổ sung năm 2011), thời hạn Tòa án phải gửi quyết định tạm đình chỉ được rút ngắn hơn, việc quy định này là nhằm bảo đảm tốt hơn quyền kháng cáo của đương sự và quyền kháng nghị của Viện kiểm sát đối với quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự.
Theo quy định của Điều 216 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày lý do tạm đình chỉ giải quyết vụ án không còn, thì Tòa án phải ra quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự và gửi quyết định đó cho đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện, Viện kiểm sát cùng cấp./.
Nguyễn Thị Liên – Viện kiểm sát nhân dân huyện Cát Hải