Công
ty TNHH H.Y đại diện theo pháp luật là ông Đỗ Mạnh Đàn ký hợp đồng tín dụng số
N/07/TD2/12 và phụ lục Hợp đồng tín dụng số N/07/TD2/12-01 ngày 18/12/2007 vay
vốn tại Công ty Tài chính TNHHMTV Công nghiệp T.T (viết tắt là VFC) với mục
đích thực hiện phương án sản xuất kinh doanh, số tiền vay là 12 tỷ chia thành
nhiều khế ước vay tiền, thời hạn vay là 06 tháng kể từ ngày giải ngân của từng
lần rút vốn, lãi suất được thỏa thuận tại từng thời điểm rút vốn, quy định cụ
thể tại từng thời điểm nhận nợ, trả lãi hàng tháng, lãi quá hạn bằng 150% lãi
suất cho vay tại thời điểm chuyển nợ quá hạn và tính từ ngày chuyển nợ quá hạn.
Sau
nhiều lần giải ngân thì Công ty H.Y đã
trả được số nợ của các khế ước. Còn một khoản nợ 1.672.263.029 đồng theo
khế ước nhận nợ số N/07/TD2/12/14 ngày 30/9/2008 đến nay (3/2019), Công ty H.Y
không thanh toán cho VFC theo như thỏa thuận đã ký kết tại hợp đồng tín dụng
như trên. VFC đã nhiều lần có văn bản đôn đốc và trực tiếp kiểm tra tình hình
sử dụng vốn tại Công ty H.Y.
Ngày
30/11/2018 Tòa án nhân dân huyện A đã thụ lý đơn khởi kiện của VFC đề ngày 30/11/2018.
Trong đó VFC yêu cầu Tòa án buộc Công ty H.Y phải trả số tiền 6.744.798.374
đồng, bao gồm tiền nợ gốc 1.672.263.029 đồng, nợ lãi tính đến ngày nộp đơn là 5.046.305.268. VFC đề
nghị phát mại các tài sản bảo đảm của Công ty H.Y đã thế chấp để thực hiện
nghĩa vụ trả nợ cho VFC nếu Công ty H.Y không trả nợ.
Hiện
tại có 03 quan điểm về việc Công ty H.Y có phải trả tiền lãi cho VFC hay không?
Và cách tính nợ lãi như thế nào?
Quan
điểm thứ nhất:
Mặc dù BLTTDS năm 2015 không quy định về thời hiệu như
BLTTDS năm 2004, sửa đổi bổ sung năm 2011, nhưng tại Điều 2 Nghị quyết số
103/2015 ngày 25/11/2015 của Quốc hội đã quy định: “Đối với các tranh chấp phát sinh trước ngày 01/01/2017 thì áp dụng quy
định về thời hiệu tại Điều 159 BLTTDS sửa đổi bổ sung năm 2011”. Tức là đối
với những giao dịch đã được thực hiện trước ngày 01/01/2017 nhưng đến nay mới
yêu cầu Tòa án giải quyết thì vẫn tiếp tục áp dụng quy định về thời hiệu khởi
kiện theo BLTTDS sửa đổi bổ sung năm 2011 và văn bản hướng dẫn liên quan để
giải quyết.
Điều
159 BLTTDS sửa đổi bổ sung năm 2011 quy định: “Thời hiệu khởi kiện, thời hiệu
yêu cầu”.
1. Thời hiệu
khởi kiện vụ án dân sự là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu
Tòa án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm;
nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện, trừ trường hợp pháp luật có
quy định khác.
.....
3. Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự được thực hiện theo quy định của
pháp luật. Trường hợp pháp luật không có quy định về thời hiệu khởi kiện vụ án
dân sự thì thực hiện như sau:
a) Tranh chấp
về quyền sở hữu tài sản; tranh chấp về đòi lại tài sản do người khác quản lý,
chiếm hữu; tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất
đai thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện;
b) Tranh chấp
không thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này thì thời hiệu khởi kiện vụ
án dân sự là hai năm, kể từ ngày cá nhân, cơ quan, tổ chức biết được quyền và
lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm”.
Căn cứ Điều 23 của Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất
“Những quy định chung” của BLTTDS sửa đổi, bổ sung năm 2011.
Điều 23 quy định: Về thời hiệu khởi kiện quy định tại
khoản 3 Điều 159 của BLTTDS sửa đổi bổ sung năm 2011.
.....
3. Đối với tranh chấp dân sự phát sinh từ giao dịch
dân sự (hợp đồng vay tài sản, hợp đồng gửi giữ tài sản, thuê tài sản, thuê
khoán tài sản, hợp đồng gia công, hợp đồng vận chuyển, hợp đồng chuyển quyền sử
dụng đất, hợp đồng thuê quyền sử dụng đất, hợp đồng thuê lại quyền sử dụng
đất), thì giải quyết như sau:
b) Đối với tranh chấp về quyền sở hữu tài sản, về đòi
lại tài sản, đòi lại quyền sử dụng đất do người khác quản lý, chiếm hữu thông
qua giao dịch dân sự thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện.
Ví dụ 1: Ngày 01-01-2008, A cho B vay 500 triệu đồng,
thời hạn vay là 1 năm. Đến ngày 01-01-2009, B không trả tiền gốc và tiền lãi.
Đến ngày 03-4-2011, A khởi kiện yêu cầu buộc B trả lại khoản tiền gốc và tiền
lãi. Đối với yêu cầu thanh toán khoản tiền lãi thì Tòa án không giải quyết vì
đã hết thời hiệu khởi kiện. Đối với yêu cầu thanh toán khoản tiền gốc thì không
áp dụng thời hiệu khởi kiện, Tòa án thụ lý giải quyết theo thủ tục chung.
Như vậy, Công
ty H.Y đã vi phạm nghĩa vụ đối với khoản vay của VFC từ thời điểm 01/4/2009.
Theo quy định của điều luật thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với yêu
cầu thanh toán khoản tiền gốc, Tòa án vẫn thụ lý giải quyết theo thủ tục chung.
Còn đối với yêu cầu thanh toán khoản tiền lãi thì Tòa án không giải quyết vì đã
hết thời hiệu khởi kiện.
Quan
điểm thứ hai:
Cần phải áp dụng luật nội dung
tại thời điểm 2 bên ký kết hợp đồng. Do đó áp dụng Điều 474
Bộ luật Dân sự 2005 quy định: “ Nghĩa vụ trả nợ của bên vay”
1.
Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật
thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả
thuận khác.
.....
5. Trong trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay
không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi trên nợ gốc và lãi nợ
quá hạn theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời
hạn vay tại thời điểm trả nợ”.
Như vậy, theo quy định trên thì Công
ty H.Y có nghĩa vụ phải trả nợ gốc cho bên vay, và kèm theo đó phải có nghĩa vụ
nợ lãi trên nợ gốc và lãi nợ quá hạn đến thời điểm trả
nợ. Như vậy số tiền Công ty H.Y phải trả cho VFC là số tiền gốc + số tiền lãi trong
hạn + số tiền lãi quá hạn tại thời điểm trả nợ.
Quan
điểm thứ ba:
Nếu
không quy định thời hạn để khởi kiện đối với yêu cầu trả khoản lãi suất của
khoản vay, thì để khoản nợ càng lâu sẽ càng gây khó khăn cho bên vay do “lãi mẹ
đẻ lãi con”. Nếu áp dụng thời hiệu để khởi kiện đối với yêu cầu của khoản vay
trong trường hợp quá thời hiệu thì bên cho vay không có quyền yêu cầu thanh
toán nữa, như vậy sẽ thiệt thòi đối với bên cho vay. Do đó cần phải áp dụng cả
hai quy định trên để tính số tiền mà Công ty H.Y phải trả cho VFC đó là số tiền
gốc + Số tiền lãi trong hạn + Số tiền lãi quá hạn đến thời điểm hết thời hiệu
khởi kiện yêu cầu trả lãi (02 năm). Như vậy mới đảm bảo được quyền lợi của các
bên (cá nhân tôi đồng ý với quan điểm này).
Trên
đây là những vấn đề phát sinh từ một vụ án cụ thể, tôi rất mong nhận được sự
trao đổi đóng góp ý kiến của các đồng nghiệp./.
Bùi Việt Dũng, Kiểm
sát viên VKSND huyện An Dương