Ngày 25/11/2015 tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật thi hành tạm giữ, tạm giam và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016. Luật thi hành tạm giữ, tạm giam gồm có 10 chương, 73 điều. Việc ban hành Luật thi hành tạm giữ, tạm giam đã tháo gỡ những khó khăn, hạn chế, bất cập trong công tác quản lý giam, giữ, cũng như quyền của người bị tạm giữ, tạm giam mà Nghị định 89/1998/NĐ-CP ngày 07/11/1998 ban hành Quy chế về tạm giữ, tạm giam; Nghị định số 98/2002/NĐ - CP ngày 07/11/2002 sửa đổi, bổ sung một số điều của quy chế về tạm giữ, tạm giam ban hành kèm theo Nghị định số 89/1998; Nghị định số 09/NĐ - CP ngày 25/01/2011 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung chế độ ăn và khám, chữa bệnh đối với người bị tạm giữ, tạm giam và một số văn bản khác quy định về tạm giữ, tạm giam. Qua bài viết tôi xin trao đổi một số nội dung mới của Luật thi hành tạm giữ, tạm giam như sau:
Kiểm sát trực tiếp nhà tạm giữ, tạm giam đảm bảo quyền của người bị tạm giữ, tạm giam
1. Hệ thống cơ cấu, tổ chức cơ quan quản lý và hệ thống tổ chức cơ quan thi hành tạm giữ, tạm giam.
Luật thi hành tạm giữ, tạm giam đã quy định rõ cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam; cơ quan thi hành tạm giữ, tạm giam. Cụ thể: Cơ quan quản lý thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp là cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam; còn Trại tạm giam, nhà tạm giữ là cơ quan thi hành tạm giữ, tạm giam (quy định tại Điều 10 và Điều 11 của Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam). Hệ thống tổ chức cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân, gồm:
- Cơ quan quản lý thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp thuộc Bộ Công an thực hiện quản lý tạm giữ, tạm giam trong phạm vi cả nước;
- Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện quản lý tạm giữ, tạm giam trong địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
- Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương thực hiện quản lý tạm giữ, tạm giam trong địa bàn huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương.
- Cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng thực hiện quản lý tạm giữ, tạm giam (sau đây gọi là cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng);
- Cơ quan thi hành án hình sự quân khu và tương đương thực hiện quản lý tạm giữ, tạm giam đối với trại tạm giam, nhà tạm giữ khu vực thuộc phạm vi quản lý;
- Bộ chỉ huy Bộ đội biên phòng cấp tỉnh thực hiện quản lý tạm giữ đối với Buồng tạm giữ của Đồn biên phòng
Đối với hệ thống tổ chức cơ quan thi hành tạm giữ, tạm giam, được tổ chức như sau:
- Trại tạm giam thuộc Bộ Công an;
- Trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng;
- Trại tạm giam Công an cấp tỉnh; trại tạm giam thuộc quân khu và tương đương (sau đây gọi chung là trại tạm giam cấp quân khu);
- Nhà tạm giữ Công an cấp huyện; nhà tạm giữ Cơ quan điều tra hình sự khu vực trong Quân đội nhân dân;
- Buồng tạm giữ của đồn biên phòng ở hải đảo, biên giới xa trung tâm hành chính cấp huyện.
2. Chế độ quản lý tạm giữ, tạm giam
* Việc phân loại người bị tạm giữ, tạm giam
Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam đã bổ sung mới 02 đối tượng trong 12 đối tượng được phân loại quản lý, bố trí theo khu, đó là:
+ Người thường xuyên vi phạm nội quy của cơ sở giam giữ (điểm l khoản Điều 18)
+ Người có dấu hiệu mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình nhưng chưa được giám định, đang chờ kết quả giám định hoặc đang chờ đưa đi cơ sở bắt buộc chữa bệnh (điểm m khoản 1 Điều 18)
*Việc quản lý người bị tạm giữ, tạm giam
- Thẩm quyền giải quyết cho người bị tạm giữ, thời gian thăm gặp được quy định cụ thể: Theo quy định của Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam thì Thủ trưởng cơ sở giam giữ quyết định cụ thể thời điểm thăm gặp, thông báo cho cơ quan đang thụ lý vụ án về việc thăm gặp người bị tạm giữ, người bị tạm giam. Ngoài ra, Thủ trưởng cơ quan giam giữ không cho thăm gặp khi người đến thăm gặp cố ý vi phạm nội quy của cơ sở giam giữ, chế độ quản lý giam giữ từ hai lần trở lên. Thời gian người bị tạm giữ được gặp người thân một lần trong thời gian giữ, mỗi lần gia hạn tạm giữ được gặp người thân, việc tăng thêm số lần gặp hoặc người gặp không phải là người thân thì phải được cơ quan đang thụ lý vụ án đồng ý.
- Về kỷ luật đối với người bị tạm giữ, tạm giam vi phạm nội quy.
Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam đã quy định rõ người bị tạm giữ vi phạm nội quy cơ sở giam giữ, chế độ quản lý giam giữ thì bị kỷ luật với hình thức cách ly ở buồng kỷ luật từ 01 ngày đến 02 ngày và có thể bị gia hạn đến 02 ngày đối với người bị tạm giữ, thời gian gia hạn kỷ luật đối với người bị tạm giam đến 10 ngày (đã giảm 02 ngày so với Quy chế tạm giữ, tạm giam), đồng thời luật cũng quy định cụ thể trường hợp bị cùm một chân và không áp dụng cùm chân đối với người bị kỷ luật là người dưới 18 tuổi, phụ nữ, người khuyết tật nặng trở lên, người đủ 70 tuổi trở lên.
3. Chế độ của người bị tạm giữ, người bị tạm giam
Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam đã bổ sung thêm các quyền của người bị tạm giữ, tạm giam, gồm: Được phổ biến các quyền và nghĩa vụ của mình (Điểm a Khoản 1 Điều 9); Được thực hiện quyền bầu cử theo quy định của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, quyền bỏ phiếu trưng cầu ý dân theo quy định của Luật trưng cầu ý dân (Điểm b Khoản 1 Điều 9); Được gặp người đại diện hợp pháp để thực hiện giao dịch dân sự (Điểm e Khoản 1 Điều 9); Được yêu cầu trả tự do khi hết thời hạn tạm giữ, thời hạn tạm giam (Điểm g Khoản 1 Điều 9); Người bị tạm giữ, người bị tạm giam chết mà trước đó đã có thời gian tham gia bảo hiểm xã hội hoặc đang được hưởng lương hưu thì chế độ tử tuất giải quyết theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội (Khoản 6 Điều 26); Chỗ nằm tối thiểu của mỗi người bị tạm giữ, người bị tạm giam là 02 mét vuông, được bố trí sàn nằm và có chiếu (Khoản 4 Điều 27), đối với người bị tạm giữ, tạm giam là phụ nữ có thai hoặc có con dưới 36 tháng tuổi ở cùng thì được bố trí chỗ nằm tối thiểu là 03 mét vuông (Khoản 1 Điều 35); Quy định cụ thể chế độ ăn, ở đối với người bị kết án tử hình; Quy định cụ thể người dưới 18 tuổi được bảo đảm tiêu chuẩn định lượng ăn như người bị tạm giữ, người bị tạm giam đã thành niên và được ăn thêm về thịt, cá nhưng không quá 20% so với định lượng./.
| | Phạm Quốc Uy - VKSND huyện Kiến Thụy |