Thực trạng áp dụng pháp luật của cơ quan, người tiến hành tố tụng về bảo đảm quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong TTHS tại Hải Phòng
1. Một số nét về thực trạng của việc bảo đảm quyền đối với người bị tạm giữ, bị can, bị cáo của Cơ quan tiền hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trên địa bàn thành phố Hải Phòng.
Trên cơ sở kết quả đã đạt được thông qua số liệu đã được phản ánh trong thời gian qua, thấy: ở giai đoạn giải quyết tố giác tin báo về tội phạm, không có một trường hợp nào đã đưa vào tạm giữ hình sự, sau trả tự do vì không có hành vi vi phạm; Ở các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử không có bị vụ án, bị can nào bị đình chỉ do không phạm tội; không có án hủy do vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và không có trường hợp nào Tòa án tuyên không phạm tội...
Để đạt được kết quả này, phải nói đến quan hệ phối hợp chặt chẽ giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát hai cấp ngay từ khi phân loại, đưa vào tạm giữ hình sự và trong suốt quá trình điều tra vụ án. Có thể nói \"hoạt động gắn công tố với điều tra\" của các Kiểm sát viên - Viện kiểm sát hai cấp ngày càng có sự chuyển biến mạnh mẽ và đã đem lại hiệu quả rõ rệt trong công tác kiểm sát án hình sự. Một trong những nguyên nhân có tính chất quyết định thành quả này, chính là sự tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, trong đó các Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã tạo điều kiện cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện tốt các quyền của mình.
Đối với các quyền của người bị tạm giữ và bị can, như: quyền được biết lý do bị tạm giữ; quyền được biết mình bị khởi tố về tội gì, quyền được nhận các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng đã được đảm bảo một cách triệt để. 100% người bị tạm giữ và các bị can đều được tống đạt hợp lệ các Lệnh, Quyết định của Cơ quan điều tra có liên quan đến mình cùng các Quyết định phê chuẩn của Viện kiểm sát. 100% những người bị tạm giữ, tạm giam đều được thông báo đến gia đình và chính quyền địa phương nơi cư trú biết việc người thân và công dân cư trú trên địa bàn bị Cơ quan điều tra tạm giữ, tạm giam, trừ những trường hợp lang thang không có nơi ở cố định hoặc gia đình người thân thích không còn ai. Tuy nhiên, trong thực tế, những bị can đang bị tạm giam hầu như không có nhu cầu lưu giữ các Lệnh, Quyết định này. Những người bị tạm giữ, bị can hầu hết đều được đảm bảo quyền được trình bày lời khai thông qua hoạt động ghi lời khai của những người tiến hành tố tụng, những người biết chữ đều được viết bản tự khai.
Đối với một số quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo như: quyền được giải thích quyền và nghĩa vụ, quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa; quyền đưa ra tài liệu đồ vật, yêu cầu; quyền khiếu nại về việc tạm giữ, quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng về cơ bản đã được đảm bảo, tuy nhiên thực tiễn áp dụng cũng còn có một số hạn chế nhất định.
Về quyền được giải thích quyền và nghĩa vụ, Ở giai đoạn tạm giữ, hầu như người bị tạm giữ chỉ được giải thích về việc họ có quyền được mời người bào chữa. Việc giải thích về quyền này thường được đặt thành câu hỏi trong biên bản ghi lời khai sau khi họ bị đưa vào tạm giữ. Ở giai đoạn điều tra, trong các mẫu biên bản hỏi cung được in sẵn đều có ghi dòng chữ \"bị can đã được giải thích quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 49 BLTTHS\". Thực tế, việc giải thích quyền và nghĩa vụ được thực hiện một cách qua loa, không đầy đủ, thậm chí vẫn còn có một số ít Điều tra viên không thực hiện việc giải thích quyền và nghĩa vụ cho bị can khi tiến hành tố tụng. Nếu có thực hiện, thông thường Điều tra viên chỉ giải thích thường chỉ được thực hiện ở buổi hỏi cung đầu tiên, có Điều tra viên đọc nguyên văn Điều 49 BLTTHS, có Điều tra viên cho bị can tự đọc. Ở giai đoạn truy tố, việc hỏi cung không phải là quy định bắt buộc đối với tất cả các vụ án nên việc hỏi cung của Kiểm sát viên không thường xuyên. Tuy nhiên, việc đảm bảo quyền này đối với bị can thông thường được các Kiểm sát viên thực hiện một cách nghiêm túc. Quyền này ở giai đoạn xét xử vụ án là được đảm bảo một cách nghiêm chỉnh vì, tại các phiên tòa được xét xử công khai, có đầy đủ người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, người tham dự phiên tòa. Mặt khác việc giải thích quyền và nghĩa vụ cho bị cáo vừa đảm bảo quyền của bị cáo vừa mang tính tuyên truyền pháp luật đến đông đảo quần chúng nhân dân tham dự phiên tòa. Tuy nhiên, vẫn còn có một số ít Thẩm phán khi giải thích quyền cho bị cáo còn mang tính chiếu lệ. Ví dụ như: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa thường nói “bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người bào chữa, tại phiên tòa hôm nay bị cáo không nhờ người bào chữa đúng không” vô hình dung đã tước đi quyền mời người bào chữa của bị cáo tại phiên tòa.
Về quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa: Ở giai đoạn tạm giữ, thực tiễn trong thời gian qua chưa có người bị tạm giữ nào thực hiện quyền mời người bào chữa cho mình, mà nếu có, thì cũng khó có thể tạo điều kiện để cho họ thực hiện được quyền này vì, luật quy định thời hạn tạm giữ ngắn, trong khi họ chỉ có thể thực hiện quyền này thông qua Điều tra viên. Trong thời hạn 09 ngày tạm giữ, Điều tra viên phải thực hiện một số hoạt động điều tra, thu thập chứng chứ để làm căn cứ đề xuất khởi tố hoặc không khởi tố vụ án, bị can bị can, áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với bị can...v..v.. Ngoài ra, việc thông báo cho người thân của họ để lựa chọn người bào chữa, rồi việc hoàn tất các thủ tục mời, thủ tục cấp phép... cũng cần có thời gian. Đối với những vụ án phức tạp, đông đối tượng, có nhiều quan điểm đánh giá khác nhau về chứng cứ hoặc người bị tạm giữ không thuộc trường hợp quy định bắt buộc phải cử người bào chữa, trợ giúp viên pháp lý thì việc giải quyết yêu cầu mời luật sư bào chữa cho người bị tạm giữ cũng chưa thực sự được quan tâm ở giai đoạn này. Mặt khác, trong thực tiễn có nhiều vụ án, Cơ quan điều tra chỉ tạm giữ đối tượng 01 hoặc 02 ngày đã khởi tố vụ án, bị can chuyển tạm giam nên việc thực hiện quyền bào chữa của người bị tạm giữ không có điều kiện thực hiện. Thông thường thì những người bị tạm giữ đều từ chối việc mời người bào chữa, việc từ chối này có nơi ghi luôn vào biên bản ghi lời khai, có nơi lập thành biên bản riêng.
Ở giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử qua tổng hợp, nghiên cứu số liệu những vụ án có sự tham gia của người bào chữa trên địa bàn thành phố Hải Phòng trong năm năm qua cho thấy, số Luật sư, người bào chữa, trợ giúp viên pháp lý chủ yếu thuộc trường hợp chỉ định bào chữa cho bị can, bị cáo. Số luật sư được mời tham gia bào chữa không nhiều. Trên thực tế, người bào chữa chủ yếu là Luật sư của các văn phòng Luật sư, hầu như không có trường hợp nào người bào chữa là người đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo hoặc bào chữa viên nhân dân. Trong những năm qua, lãnh đạo các cơ quan tố tụng Hải Phòng yêu cầu khá chặt chẽ đối với các Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán về việc thực hiện nghiêm túc quy định về việc đảm bảo quyền bào chữa, nhất là đối với những trường hợp theo quy định tại Khoản 2 Điều 57 Bộ luật tố tụng hình sự, nếu không thực hiện quy định này thì hồ sơ bị coi là vi phạm nghiêm trọng tố tụng, có thể bị trả lại để điều tra bổ sung hoặc bị hủy án. Tuy nhiên, đối với bị can là người chưa thành niên thì việc thực hiện quy định này đôi khi còn mang tình hình thức. Một số bị can là người chưa thành niên và người đại diện hợp pháp của họ có văn bản từ chối Luật sư trước khi chỉ định Luật sư cho họ, thực tế có một số trường hợp từ chối là do Điều tra viên gợi ý. Để tránh tình trạng trên, lãnh đạo các cơ quan tố tụng Hải Phòng có quy định, ngay sau khi khởi tố bị can, Điều tra viên phải có văn bản đề nghị Đoàn Luật sư phân công văn phòng Luật sư chỉ định Luật sư bào chữa cho bị can, và việc bị can từ chối luật sư chỉ được chấp nhận khi bị can đã có Luật sư, và việc từ chối đó phải là từ chối chính Luật sư đã được chỉ định và phải lập biên bản từ chối Luật sư trước sự chứng kiến của Luật sư đó. Đối với các trường hợp bị can, bị cáo tự mời người bào chữa cơ bản được những người tiến hành tố tụng ở các giai đoạn tạo điều kiện cho họ thực hiện quyền này. Ở giai đoạn xét xử, quyền bào chữa của bị cáo cơ bản được đảm bảo, các bị cáo được trình bày lời khai, trình bày các ý kiến của mình một cách đầy đủ, không bị hạn chế về thời gian. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa là chứng cứ quan trọng để xem xét đánh giá hành vi, tội trạng.
Qua công tác kiểm tra nghiệp vụ hàng năm và báo cáo của các đơn vị thấy, không có trường hợp nào bị khiếu nại do không tạo điều kiện cho Luật sư tham gia nghiên cứu hồ sơ ở giai đoạn truy tố, xét xử.
Về quyền đưa ra tài liệu đồ vật, yêu cầu. Luật tố tụng hình sự quy định trách nhiệm chứng minh thuộc về các Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng, theo đó, các ĐTV và KSV phải áp dụng mọi biện pháp thực hiện việc thu thập các tài liệu, chứng cứ làm sáng tỏ các tình tiết trong vụ án, kịp thời thu giữ vật chứng, làm rõ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bảo đảm. Chính vì vậy, ở các giai đọan tố tụng, quyền này cơ bản được đảm bảo thực hiện đầy đủ khi người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có yêu cầu. Tuy nhiên, thông thường người bị tạm giữ, bị can, bị cáo chỉ yêu cầu những người tiến hành tố tụng thu thập các tài liệu, chứng cứ thuộc tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho mình, như: thu thập tài liệu về việc đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại, ví dụ như: bị can bị tạm giam trong nhóm tội Cố ý gây thương tích hoặc trong nhóm tội chiếm đoạt (lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản) yêu cầu được bồi thường cho người bị hại, theo đó đề nghị được ĐTV và KSV tạo điều kiện để họ tác động với gia đình bồi thường; yêu cầu ĐTV, KSV thu thập các tài liệu giấy tờ xác định gia đình có công với cách mạng, người có thành tích trong lao động, học tập...Cũng có những bị can yêu cầu ĐTV, KSV thu thập các chứng cứ gỡ tội cho mình, thậm chí yêu cầu được đối chất với những người tham gia tố tụng khác. Tuy nhiên, trên thực tế có rất ít bị can hiểu được quyền này của mình để yêu cầu được thực hiện.
Về quyền khiếu nại về việc tạm giữ, quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Ở giai đoạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, qua theo dõi chưa thấy có trường hợp nào người bị tạm giữ khiếu nại Quyết định tạm giữ của Cơ quan điều tra hai cấp. Có thể nói do công tác phối hợp, phân loại xử lý tốt giữa Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát ngay từ đầu nên việc đưa vào tạm giữ hình sự hầu như đều có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Mặt khác, cũng có thể người bị tạm giữ có do tâm lý hoang mang sợ hãi khi mới bị bắt nên không muốn hoặc không dám thực hiện quyền của mình. Ở giai đoạn điều tra, việc đảm bảo quyền khiếu nại Quyết định, hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng đối với bị can trên thực tế chưa được thưc hiện đầy đủ. Kể cả trường hợp họ đã được giải thích về quyền, nhưng hầu như không biết sẽ thực hiện quyền này như thế nào. Ví dụ như: bị can thực hiện hành vi phạm tội ít nghiêm trọng, khai báo thành khẩn, không cản trở hoạt động điều tra, tuy nhiên vẫn bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam, có quyền khiếu nại hoặc yêu cầu giải thích về lý do bị tạm giam, nhưng thường do không biết phải thực hiện quyền của mình như thế nào nên họ đã không thực hiện và mặc nhiên chấp nhận...
Về quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định: Bộ luật tố tụng hình sự không quy định các Quyết định phân công Điều tra viên, Kiểm sát viên phải được gửi cho bị can nên việc thực hiện quyền này của các bị can cũng rất hạn chế. Bởi lẽ, Quyết định phân công Điều tra viên chỉ có tên một người nhưng do tính chất phức tạp của vụ án hoặc do có cán bộ giúp việc nhiều trường hợp bị can chỉ biết mặt mà không biết tên người tiến hành tố tụng trực tiếp nên không thể thực hiện được quyền của mình. Trong giai đoạn điều tra, truy tố cũng có những trường hợp bị can yêu cầu thay đổi Điều tra viên, Kiểm sát viên vì cho rằng họ không khách quan trong quá trình giải quyết vụ án. Thực tế trong 5 năm qua chưa có trường hợp nào phải thay đổi Điều tra viên, Kiểm sát viên do có vi phạm đến quyền của bị can. Ngoài ra, Bộ luật tố tụng hình sự cũng không quy định Kết luận giám định phải giao cho bị can một bản nên bị can không thể biết người giám định là ai để khiếu nại việc xâm phạm đến quyền lợi ích hợp pháp của mình. Có thể nói, các bị can hầu như không biết mình phải thực hiện quyền này như thế nào.
2. Nguyên nhân của những hạn chế trong việc bảo đảm quyền đối với người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong của Cơ quan tiền hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trên địa bàn thành phố Hải Phòng.
- Hiện tại, vẫn còn tình trạng người tiến hành tố tụng vẫn có tư tưởng coi người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người đã có tội, do đó thường áp đặt các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng một chiều mang tính chất mệnh lệnh phục tùng, không bình đẳng trong quá trình đưa ra tài liệu chứng cứ chứng minh, chưa coi trọng quyền lợi của họ.
- Trình độ, năng lực của một số Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán còn hạn chế. Một số Điều tra viên, Kiểm sát viên còn có tâm lý “ngại” người bào chữa tham gia tố tụng nên không tạo điều kiện cho bị can thực hiện quyền của mình. Việc tạo điều kiện để Luật sư gặp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo bị tạm giam cũng chưa được những người tiến hành tố tụng tạo điều kiện thuận lợi vì cho rằng có thể Luật sư gặp thân chủ sẽ “xui” thân chủ khai những điều bất lợi cho việc điều tra, truy tố (trên thực tế điều này có xảy ra)
- Trình độ hiểu biết pháp luật của hầu hết bị can còn hạn chế, họ không biết rõ quyền được nhờ người bào chữa của mình như thế nào, nhờ ai trong điều kiện họ đang bị hạn chế một số quyền tự do, không được tiếp xúc với bên ngoài, trong khi đó Bộ luật tố tụng hình sự không quy định cho người thân của họ đựơc nhờ người bào chữa; nhiều bị can không có điều kiện về kinh tế để có thể nhờ Luật sư bào chữa cho mình; chưa có “thói quen” trong nhân dân là nhờ đến người bào chữa tham gia tố tụng…
- Do ý thức trách nhiệm của một số Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán chưa làm hết trách nhiệm theo quy định. Năng lực điều khiển việc tranh luận của một số Thẩm phán chưa đồng đều. Có một số ít Thẩm phán khi điều khiển phần tranh luận chỉ làm nhiệm vụ: sau khi Luật sư và những người tham gia tố tụng phát biểu ý kiến, đối đáp với Kiểm sát viên thì ngay lập tức yêu cầu Kiểm sát viên đối đáp lại mà không quan tâm những nội dung đó đã rõ hay chưa, đã được đối đáp bao nhiêu lần. Rất ít có Thẩm phán đưa ra các nội dung cụ thể để yêu cầu Kiểm sát viên đối đáp lại.
- Trong công tác chỉ đạo điều hành, một số đồng chí lãnh đạo chưa thực sự quan tâm sâu sát đến việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong các giai đoạn tố tụng. Việc kiểm tra, đôn đốc, giám sát các Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán của lãnh đạo còn hạn chế chưa thực sự đầy đủ, chưa triệt để.
3. Một số đề xuất, kiến nghị.
- Hiện nay, với quy định hiện hành, trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng, bao gồm cả Tòa án. Quy định này cho thấy Tòa án sẽ đồng thời thực hiện hai chức năng, vừa chứng minh tội phạm, vừa xét xử. Với quy định này, Tòa án đã phải làm thay chức năng truy tố buộc tội của Viện Kiểm sát. Để phù hợp với nhiệm vụ trọng tâm của cải cách tư pháp là nâng cao tính tranh tụng của phiên tòa xét xử vụ án hình sự, nên sửa đổi Điều 10 BLTTHS theo hướng: “trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về Cơ quan Điều tra và Viện Kiểm sát; Tòa án thực hiện chức năng xét xử; bị can, bị cáo có quyền nhưng không có nghĩa vụ chứng minh là mình vô tội”.
- Cần mở rộng phạm vi khoản 2 Điều 57 Bộ luật tố tụng hình sự về đối tượng được chỉ định Người bào chữa. Theo quy định hiện hành, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo chỉ được chỉ định Người bào chữa trong hai trường hợp: Bị can, bị cáo về tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình được quy định tại Bộ luật Hình sự và Bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất.
- Cần quy định nghĩa vụ của cơ quan tiến hành tố tụng trong việc tiếp nhận chứng cứ do Người bào chữa cung cấp và trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng phải hỗ trợ Người bào chữa trong việc liên hệ với các cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân tạo điều kiện thuận lợi để thu thập chứng cứ.
- Cần có hướng dẫn, quy định thống nhất về cách thức thực hiện việc giải thích quyền và nghĩa vụ cho người bị tạm giữ và bị can. Có thể quy định trước khi tiến hành ghi lời khai người bị tạm giữ hoặc hỏi cung bị can cần lập biên bản riêng về việc đã giải thích quyền và nghĩa vụ cho họ theo quy định của Bộ luật tố hình sự. Các quyền và nghĩa vụ của họ được ghi đầy đủ trong biên bản thay vì chỉ ghi Điều luật như hiện nay. Việc lập biên bản chỉ cần thực hiện một lần.
- Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng và tập huấn cho những người tiến hành tố tụng bằng nhiều hình thức, nội dung phong phú, gắn liền với nhiệm vụ chức năng của từng ngành. Phát động các phong trào thi đua có ý nghĩa trau dồi về đạo đức, tác phong sống, làm việc nghiêm túc, lành mạnh; coi đây là cơ sở đề xuất bổ nhiệm, miễn nhiệm.
- Tăng cường đổi mới hơn nữa công tác kiểm tra, giám sát của lãnh đạo trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Thường xuyên tổ chức các hội thảo, tập huấn về công tác quản lý, chỉ đạo điều hành. Trong đó chú trọng đến việc tăng cường trách nhiệm của những người tiến hành tố tụng đảm bảo việc thực hiện quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự.
Các cơ quan tiến hành tố tụng hai cấp cần thống nhất nhận thức thông qua việc ban hành các Quy chế phối hợp quy định liên quan đến trách nhiệm của những người tiến hành tố tụng trong việc thực hiện quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong giai đoạn hiện nay.
Cao Lâm Khánh - Trưởng phòng 2
Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng.