Trao đổi về bài viết “Có được áp dụng tình tiết phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng hay không?”
Ngày 04/11/2019, trang
tin điện tử ngành Kiểm sát Hải Phòng đăng bài viết “Có được áp dụng tình tiết phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng
hay không?” của tác giả Phạm Quang Dũng – Viện kiểm sát nhân dân huyện An
Lão ([1]). Tác giả đặt vấn đề có
hay không được áp dụng tình tiết giảm nhẹ “phạm
tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” theo quy định tại Điểm i khoản
1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với trường hợp Trần Văn T có hành vi phạm tội sau
được xét xử trước còn hành vi phạm tội trước lại xét xử sau. Bài viết của tác
giả Phạm Quang Dũng đã nhận được bài trao đổi của tác giả Đồng Thị Lan Anh – Kiểm
sát viên Phòng 2, VKSND thành phố Hải Phòng ([2]).
Tiếp tục trao đổi về vấn đề, tác giả Nguyễn Hồng Ly – Kiểm sát viên
VKSND quận Ngô Quyền có quan điểm như sau:
Tại điểm 4 phần I Công văn số
01/2017/GĐ - TANDTC ngày 07/4/2017 (gọi tắt là Công văn số 01/2017) về giải đáp
một số vấn đề nghiệp vụ thể hiện:
“Phạm tội lần đầu là từ trước đến nay chưa phạm tội
lần nào. Nếu trước đó đã phạm tội và bị kết án, nhưng đã được xóa án tích hoặc
chưa bị kết án, nhưng đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chưa
bị kết án, chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự nay bị truy cứu
trách nhiệm hình sự trong cùng lần phạm tội sau, thì không được coi là phạm tội
lần đầu.
Phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm
trọng là phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây: Phạm tội gây nguy hại
không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến
ba năm tù; Phạm tội nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc phạm tội đặc biệt
nghiêm trọng nhưng người phạm tội có vị trí, vai trò thứ yếu, không đáng kể
trong vụ án có đồng phạm.
Tòa án chỉ áp dụng tình tiết giảm
nhẹ trách nhiệm hình sự “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”
quy định tại Điểm h Khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 khi có đủ 02 yếu
tố “phạm tội lần đầu” và “thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”. Nếu bị cáo phạm
tội lần đầu mà không phải thuộc trường hợp ít nghiêm trọng hoặc ngược lại phạm
tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nhưng lần phạm tội này không phải là phạm
tội lần đầu thì không áp dụng Điểm h Khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999
(Điểm i Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015) để giảm nhẹ trách nhiệm hình
sự cho bị cáo.”
Theo nội dung tình huống thì T trộm
cắp tài sản trị giá 3.100.000 đồng, “gây nguy hại không lớn cho
xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù” nên hành vi của T thỏa mãn yếu tố “thuộc
trường hợp ít nghiêm trọng”.
Đối với
yếu tố “phạm tội lần đầu”, xét thấy, theo hướng dẫn của Công văn 01/2017 của
Tòa án nhân dân tối cao thì: Phạm tội lần đầu là từ trước đến nay chưa phạm tội lần nào... Như vậy, để được coi là phạm tội lần đầu thì
cần xác định từ trước đến nay – là đến thời điểm xét xử bị cáo, bị cáo chưa
phạm tội lần nào mới được coi là phạm tội lần đầu.
Mặt khác,
Công văn 01/2017 cũng nêu rõ: Nếu trước đó đã phạm tội và bị kết án, nhưng
đã được xóa án tích hoặc chưa bị kết án, nhưng đã hết thời hiệu truy cứu trách
nhiệm hình sự hoặc chưa bị kết án, chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình
sự nay bị truy cứu trách nhiệm hình sự trong cùng lần phạm tội sau, thì không
được coi là phạm tội lần đầu.
Như vậy,
ở đây Công văn 01/2017 đã nêu các trường hợp không được coi là phạm tội lần đầu,
gồm:
- Trước
đó đã phạm tội mà bị kết án, đã được xóa án tích
- Trước
đó đã phạm tội mà chưa bị kết án nhưng hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình
sự;
- Trước
đó đã phạm tội mà chưa bị kết án, chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình
sự, nay truy cứu trách nhiệm hình sự trong cùng lần phạm tội sau.
Từ đó, có
thể thấy, trước thời điểm xét xử T về hành vi ngày 20/6/2019, T đã bị kết án về
hành vi trộm cắp tài sản mà T thực hiện ngày 05 và 07/7/2019. Trường hợp này, T
thuộc trường hợp “trước đó đã phạm tội mà bị kết án” – xét về tính chất còn
“nghiêm trọng” hơn cả trường hợp “trước đó đã phạm tội mà bị kết án, đã được
xóa án tích” (trường hợp này sẽ không tính tái phạm vì xét xử bị cáo về hành vi
thực hiện sau).
Do đó,
trong lần xét xử sau đối với hành vi phạm tội xảy ra trước, theo tôi T không đủ
điều kiện được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “phạm tội lần đầu và
thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” quy định tại Điểm i Khoản 1 Điều 51
Bộ luật hình sự.
Trên cơ sở nghiên cứu quy định của
pháp luật, tôi mạnh dạn đưa ra quan điểm cá nhân như nêu trên, rất mong nhận
được sự quan tâm cũng như ý kiến trao đổi của tác giả và các đồng nghiệp.
Nguyễn Hồng
Ly – VKSND quận Ngô Quyền
[1] Để thuận tiện theo dõi, Ban biên tập
tóm tắt lại bài viết của tác giả Phạm Quang Dũng dưới đây:
Khoảng 11 giờ ngày 20/6/2019, Trần Văn T đã lợi dụng lúc vắng người,
lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy J8
trị giá 3.100.000 đồng của anh Đỗ Văn Tuấn, tại thôn An Luận, xã An Tiến, huyện
An Lão, thành phố Hải Phòng. Sau khi thực hiện hành vi trộm cắp đó, trong các
ngày 05 và 07/7/2019, Trần Văn T còn thực hiện hai lần trộm cắp tài sản tổng
giá trị là 5,8 triệu tại Cụm 2, xã Phụng Thượng, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội
và đã bị TAND Phúc Thọ xử ngày 19/09/2019 với mức án 12 tháng tù (hành vi sau
xét xử trước).
Ngày 15/10/2019 TAND huyện An Lão mới xét xử hành vi phạm
tội ngày 20/06/2019 (hành vi trước xét xử sau). Vấn đề đặt ra là: Bị cáo Trần Văn T có được
hưởng tình tiết giảm nhẹ “Phạm
tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng theo Điểm i Khoản 1 Điều 51
BLHS năm 2015” hay không ?
Theo
tinh thần Công văn số 01/2017/GĐ - TANDTC ngày 7/4/2017 về giải đáp một số vấn
đề nghiệp vụ và Nghị quyết số 01/2018/NQ - HĐTP ngày 24 /4/2018 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC về hướng dẫn áp dụng Điều 66 và Điều 106 của
BLHS về tha tù trước thời hạn có điều kiện. Cả 2 văn bản hướng dẫn của TANDTC đều
có đề cập đến khái niệm phạm tội lần đầu.
Tại
Điểm 4 phần I Công văn số 01/2017/GĐ - TANDTC quy định: “Phạm tội lần đầu là
từ trước đến nay chưa phạm tội lần nào. Nếu trước đó đã phạm tội và bị kết án,
nhưng đã được xóa án tích hoặc chưa bị kết án, nhưng đã hết thời hiệu truy cứu
trách nhiệm hình sự hoặc chưa bị kết án, chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm
hình sự nay bị truy cứu trách nhiệm hình sự trong cùng lần phạm tội sau, thì
không được coi là phạm tội lần đầu.
Phạm
tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là phạm tội thuộc một trong các trường hợp
sau đây: Phạm tội gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung
hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù; Phạm tội nghiêm trọng, rất nghiêm trọng
hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng nhưng người phạm tội có vị trí, vai trò thứ
yếu, không đáng kể trong vụ án có đồng phạm.
Tòa
án chỉ áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “phạm tội lần đầu và thuộc
trường hợp ít nghiêm trọng” quy định tại Điểm h Khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự
năm 1999 khi có đủ 02 yếu tố “phạm tội lần đầu” và “thuộc trường hợp ít nghiêm
trọng”. Nếu bị cáo phạm tội lần đầu mà không phải thuộc trường hợp ít nghiêm trọng
hoặc ngược lại phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nhưng lần phạm tội này
không phải là phạm tội lần đầu thì không áp dụng Điểm h Khoản 1 Điều 46 Bộ luật
hình sự năm 1999 (Điểm i Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015) để giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự cho bị cáo.”
Còn
theo Khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 01/2018/NQ-HĐTP thì: “… Được coi là phạm tội lần đầu và có thể
xem xét nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Trước đó chưa phạm tội lần
nào; b) Trước đó đã thực hiện hành vi phạm tội nhưng được miễn trách nhiệm hình
sự; c) Trước đó đã thực hiện hành vi phạm tội nhưng được áp dụng biện pháp tư
pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng; d) Trước đó đã bị kết án nhưng thuộc trường
hợp được coi là không có án tích.”
Quan
điểm thứ nhất: Hành vi phạm tội của T không thuộc trường hợp phạm tội lần
đầu. Vì trước đó (tức ngày 119/9/2019), T đã bị Tòa án nhân dân huyện Phúc
Thọ xử phạt 12 tháng
tù về tội trộm cắp tài sản. Tức là T không thuộc trường hợp quy định tại Điểm d
Khoản 2 Điều 2 của Nghị quyết số 01/2018/NQ-HĐTP (Trước đó đã bị kết án
nhưng không thuộc trường hợp được
coi là không có án tích). Do đó
không được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “phạm tội lần đầu” và
“thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” theo Điểm i Khoản 1 Điều 51 BLHS năm
2015.
Quan
điểm thứ hai: Hành vi phạm tội của T thuộc
trường hợp phạm tội lần đầu. Bởi vì cụm từ “Trước đó” trong Công văn số
01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/4/2017 của TANDTC hay Nghị quyết số
01/2018/NQ-HĐTP ngày 24 /4/ 2018 của Hội đồng Thẩm
phán TANDTC, là tính từ thời điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mà không phải
là thời điểm Tòa án xét xử bị cáo. Cho nên tính từ thời điểm thực hiện hành vi
phạm tội (ngày 20.6.2019) thì T không thực hiện hành vi phạm tội nào khác,
nghĩa là “… từ trước đến nay chưa phạm tội lần nào” như
hướng dẫn tại Công văn số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/4/2017 của Tòa án nhân dân
tối cáo hay Nghị quyết số: 01/2018/NQ-HĐTP ngày 24 /4/ 2018 của Hội
đồng Thẩm phán TANDTC. Hành vi phạm tội
của T trộm cắp tài sản trị giá
3.100.000 đồng, gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của
khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù. Do đó được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “phạm tội lần đầu”
và “thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” theo Điểm i Khoản 1 Điều 51 BLHS
năm 2015.
Quan
điểm thứ ba: Mặc rù
hành vi phạm tội của Trần Văn T có đủ 02 yếu tố “phạm tội lần đầu”
và “thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”. nhưng T không được hưởng tình tiết “Phạm tội lần đầu và thuộc
trường hợp ít nghiêm trọng theo Điểm i Khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015”. Vì tại
Điểm 4 Phần I Công văn số 01/2017/GĐ - TANDTC đã nêu:“Phạm tội lần đầu là từ
trước đến nay chưa phạm tội lần nào. Nếu trước đó đã phạm tội và bị kết án,
nhưng đã được xóa án tích hoặc chưa bị kết án, nhưng đã hết thời hiệu truy cứu
trách nhiệm hình sự hoặc chưa bị kết án, chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm
hình sự nay bị truy cứu trách nhiệm hình sự trong cùng lần phạm tội sau, thì
không được coi là phạm tội lần đầu.”.
([2])
Quan điểm của tác giả Đồng Thị Lan Anh như sau:
Trước hết, về việc áp
dụng văn bản pháp luật, theo quan điểm của tôi, khi xét xử Trần Văn T, không
nên viện dẫn Nghị quyết số 01/2018/NQ - HĐTP ngày 24 /4/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân
dân Tối cao vì đây là Nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điều 66 và Điều 106 của
Bộ luật hình sự về tha tù trước thời hạn
có điều kiện. Trong trường hợp xét xử, cần theo hướng dẫn của Công văn số
01/2017/GĐ - TANDTC ngày 07/4/2017 (gọi tắt là Công văn số 01/2017) về giải đáp
một số vấn đề nghiệp vụ để xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ này (tại Điểm 4
phần I ):
“Phạm tội lần đầu là từ
trước đến nay chưa phạm tội lần nào. Nếu trước đó đã phạm tội và bị kết án,
nhưng đã được xóa án tích hoặc chưa bị kết án, nhưng đã hết thời hiệu truy cứu
trách nhiệm hình sự hoặc chưa bị kết án, chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm
hình sự nay bị truy cứu trách nhiệm hình sự trong cùng lần phạm tội sau, thì
không được coi là phạm tội lần đầu.
Phạm tội thuộc trường
hợp ít nghiêm trọng là phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây: Phạm tội
gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội
ấy là đến ba năm tù; Phạm tội nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc phạm tội đặc
biệt nghiêm trọng nhưng người phạm tội có vị trí, vai trò thứ yếu, không đáng kể
trong vụ án có đồng phạm.
Tòa án chỉ áp dụng
tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít
nghiêm trọng” quy định tại Điểm h Khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 khi
có đủ 02 yếu tố “phạm tội lần đầu” và “thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”. Nếu bị
cáo phạm tội lần đầu mà không phải thuộc trường hợp ít nghiêm trọng hoặc ngược
lại phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nhưng lần phạm tội này không phải
là phạm tội lần đầu thì không áp dụng Điểm h Khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự
năm 1999 (Điểm i Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015) để giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự cho bị cáo.”
Theo ví dụ tác giả đưa
ra, hành vi phạm tội sau của Trần Văn T đã bị xét xử trước trong một vụ án
riêng, do đó, không thuộc trường hợp “trước đó đã phạm tội … chưa bị kết án,
chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự nay bị truy cứu trách nhiệm
hình sự trong cùng lần phạm tội sau”
theo hướng dẫn tại Công văn
số 01/2017. Do đó cũng không
thuộc trường hợp “không được coi là phạm tội lần đầu” như hướng dẫn.
Bên cạnh đó, theo
nguyên tắc có lợi cho bị can, bị cáo, cần
xác định điểm mốc để tính khoảng thời gian “từ trước đến nay
chưa phạm tội lần nào” là thời
điểm Trần Văn T thực hiện hành vi phạm tội chứ không phải là thời điểm Tòa án
xét xử bị cáo đối với lần phạm tội này. Theo đó, tính đến trước thời điểm phạm
tội (ngày 20/6/2019), chưa chứng minh được T đã thực hiện hành vi phạm tội nào
khác, nên cần xác định là “từ trước đến nay chưa phạm tội lần nào”. T
trộm cắp tài sản trị giá 3.100.000 đồng, “gây nguy hại không lớn
cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm
tù”. Do đó, trong lần xét xử sau đối
với hành vi phạm tội xảy ra trước, theo tinh thần của Công văn số
01/2017, cần xem xét cho T được hưởng
tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp
ít nghiêm trọng” quy định tại Điểm i Khoản 1 Điều 51 Bộ luật
hình sự. Do vậy, tôi đồng ý với quan điểm thứ 2 tác giả đã nêu ra.