Trao đổi về Vướng mắc trong việc Kiểm sát thông báo trả lại đơn khởi kiện của Tòa án theo quy định của BL TTDS.

Qua thực tiễn, trong công tác kiểm sát thông báo trả lại đơn khởi kiện của Tòa án, bản thân tôi thấy có vướng mắc trong nhận thức và thực hiện như sau: 

     Khoản 2 Điều 168 BL TTDS quy định“Khi trả lại đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo cho người khởi kiện, Tòa án phải có văn bản ghi rõ lý do trả lại đơn khởi kiện, đồng thời gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp”. Văn bản ghi rõ lý do trả lại đơn khởi kiện trên thực tế chính là Thông báo trả lại đơn khởi kiện của Tòa án. Khoản 1 Điều 170 BL TTDS quy định“Trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản trả lại đơn khởi kiện của Tòa án, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kiến nghị với Chánh án Tòa án đã trả lại đơn khởi kiện”. Để thực hiện quyền kiến nghị của mình, Viện kiểm sát phải kiểm sát tốt Thông báo trả lại đơn khởi kiện. Tuy nhiên, việc gửi Thông báo của Tòa án và Viện kiểm sát kiểm sát Thông báo trả lại đơn khởi kiện như thế nào còn là vấn đề cần tiếp tục được hướng dẫn để thực hiện thống nhất.

     Khoản 2 Điều 168 BL TTDS chỉ quy định việc Tòa án phải “đồng thời gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp” nhưng không nêu rõ thời hạn phải gửi. Điều đó dẫn đến thực trạng là, có trường hợp, Tòa án không gửi thông báo này nhưng Viện kiểm sát cũng không nắm được vì không có cơ chế để kiểm tra hoạt động trả lại đơn của Tòa án. Thông thường, Viện kiểm sát chỉ nắm được khi người khởi kiện khiếu nại, Chánh án giải quyết khiếu nại và gửi kết quả tới Viện kiểm sát. Hoặc Viện kiểm sát chỉ nắm được khi nhận được đơn tố cáo về vi phạm pháp luật của Thẩm phán (trong việc trả lại đơn khởi kiện). Lúc đó, Tòa án mới gửi thông báo trả lại đơn khởi kiện cho Viện kiểm sát. Tòa án cho rằng, luật không quy định phải gửi “ngay lập tức” mà “đồng thời” có thể hiểu là Viện kiểm sát cũng là chủ thể được gửi thông báo này như người khởi kiện. Tuy nhiên, việc gửi Thông báo trả lại đơn khởi kiện chỉ mang tính chất đối phó như vậy đã làm ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động kiểm sát thông báo Trả lại đơn khởi kiện của Viện kiểm sát.

     Theo tôi, quy định như hiện nay sẽ dẫn đến sự thiếu thống nhất trong cách hiểu: kiểm sát thông báo Trả lại đơn khởi kiện là kiểm sát nội dung Thông báo này hay kiểm sát hoạt động trả lại đơn khởi kiện của Tòa án. Tôi cho rằng, nếu hiểu theo hướng kiểm sát hoạt động trả lại đơn khởi kiện của Tòa án thì sẽ dẫn tới khó khăn trong thực hiện. Bởi vì, thực tế là, khi Tòa án trả lại đơn khởi kiện thì cũng trả lại toàn bộ tài liệu, chứng cứ kèm theo cho người khởi kiện. Muốn biết được hoạt động trả lại đơn có đúng quy định hay không, Kiểm sát viên phải nghiên cứu toàn bộ tài liệu, chứng cứ gửi kèm theo đơn khởi kiện. Nhưng khi nhận được Thông báo trả lại đơn khởi kiện, Kiểm sát viên có muốn cũng không thể nghiên cứu được vì tòa án không còn lữu giữ những tài liệu đó. Vì vậy, không thể đánh giá được, hoạt động trả lại đơn khởi kiện của Tòa án có chính xác không. (ví dụ: trường hợp Tòa án trả lại đơn do người khởi kiện không chứng minh được địa chỉ của bị đơn thuộc địa bàn mà Tòa án có thẩm quyền giải quyết. Để đánh giá được đây có phải trường hợp “người bị kiện cố tình giấu địa chỉ” được quy định tại khoản 6 Điều 9 Nghị quyết 05 ngày 03/12/2012 của HĐTP để Tòa án phải thụ lý giải quyết theo thủ tục chung hay không, Viện kiểm sát cần nghiên cứu đầy đủ hồ sơ để đảm bảo việc kiến nghị có căn cứ. Tuy nhiên, khi Tòa án đã trả lại đơn khởi kiện cùng toàn bộ tài liệu, hồ sơ thì Viện kiểm sát không thể thực hiện được hoạt động này.)

     Tôi cho rằng, nếu hiểu theo hướng Viện kiểm sát chỉ kiểm sát nội dung Thông báo trả lại đơn khởi kiện thì sẽ đảm bảo hiệu quả và thực chất của hoạt động kiểm sát Thông báo trả lại đơn khởi kiện. Theo đó, Kiểm sát viên chỉ nghiên cứu nội dung Thông báo trả lại đơn khởi kiện, chủ yếu đánh giá xem, việc trả lại đơn có đúng trình tự, thủ tục và quan trọng nhất là đưa ra căn cứ chính xác không. Nếu căn cứ đưa ra không đúng tinh thần quy định tại Điều luật được viện dẫn thì cần thiết phải kiến nghị.

    Bên cạnh đó, khoản 4 Điều 85 BL TTDS quy định “Viện kiểm sát có quyền yêu cầu đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp hồ sơ, tài liệu, vật chứng để đảm bảo cho việc thực hiện thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm.” Như vậy, nếu cần thiết phải thu thập chứng cứ để đánh giá tính có căn cứ hay không của việc Tòa án trả lại đơn khởi kiện, trên cơ sở đó đảm bảo thực hiện quyền kháng nghị, Viện kiểm sát cũng không được cho phép tự mình thu thập chứng cứ. Điều đó dẫn tới việc không thể đảm bảo để Viện kiểm sát thực hiện hiệu quả quyền kiến nghị đối với việc trả lại đơn khởi kiện của Tòa án.

     Qua những vướng mắc như nêu trên, tôi mạnh dạn đề nghị hoàn thiện quy định này theo hướng:

     + Quy định rõ thời hạn gửi Thông báo trả lại đơn khởi kiện cho Viện kiểm sát là 03 ngày từ ngày trả lại đơn khởi kiện;

     + Quy định về việc lưu trữ hồ sơ (sao) để thể hiện cho hoạt động trả lại đơn khởi kiện của Thẩm phán là có căn cứ và phục vụ hiệu quả cho công tác kiểm tra, đánh giá sau này;  

    + Quy định mở rộng quyền thu thập chứng cứ cho Viện kiểm sát để đảm bảo cả việc thực hiện quyền kiến nghị chứ không giới hạn ở việc thực hiện quyền kháng nghị của mình.

    Trên đây là ý kiến của tôi, rất mong được sự hướng dẫn của cấp trên và sự quan tâm, trao đổi của các đồng nghiệp.

          Đồng Thị Lan Anh – Viện kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền.

Ứng dụng hỗ trợ nghiệp vụ

Tin tức
Thông tin cần biết
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1

Trang thông tin điện tử: VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG - Cơ quan chủ quản: VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO
Địa chỉ: Lô 18A, Lê Hồng Phong, P. Hải An, TP Hải Phòng - Điện thoại: 02253.838308 - Fax: 02253.839072 - Email: vp_haiphong@vks.gov.vn
Trưởng ban biên tập: Phó Viện trưởng Nguyễn Mạnh Vỹ
Số giấy phép: 03/GP-STTTT do Sở Thông tin và Truyền thông TP Hải Phòng cấp ngày 17 tháng 10 năm 2017 (Giấy phép có giá trị 10 năm)
Bản quyền thuộc về VKSND TP Hải Phòng - Thiết kế bởi VNPT | Quản trị

Chung nhan Tin Nhiem Mang