Luật Thi hành án dân sự được Quốc hội nước Cộnghoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 14/11/2008,có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2009. Tại Điều 13 Luật thi hành án dân sự quyđịnh về hệ thống tổ chức thi hành án dân sự, bao gồm Cơ quan quản lý thi hànhán dân sự và Cơ quan thi hành án dân sự (Cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Cơ quan thihành án dân sự huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và Cơ quan thi hành ánquân khu và tương đương).
Nghị quyết số 24/2008/QH12 ngày 14/11/2008 củaQuốc hội về việc thi hành Luật Thi hành án dân sự, tại mục 2 đã quy định để triểnkhai thực hiện chủ trương xã hội hoá một số công việc có liên quan đến thi hànhán dân sự, giao Chính phủ quy định và tổ chức thực hiện thí điểm chế định Thừaphát lại (Thừa hành viên) tại một số địa phương. Việc thí điểm được thực hiện từngày Luật Thi hành án dân sự có hiệu lực thi hành đến ngày 01/7/2012.
Nhằm triển khai thực hiện Nghị quyết số 24, ngày24/7/2009 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 61/2009/NĐ - CP về tổ chức và hoạtđộng của Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 23/11/2012, Quốc hội ban hành Nghị quyếtsố 36/2012/QH13 về việc tiếp tục thực hiện thí điểm chế định thừa phát lại. Điều2 Nghị quyết quy định: Chính phủ quy định cụ thể và tổ chức thực hiện thí điểmchế định Thừa phát lại. Các tổ chức Thừa phát lại đã được thành lập và hoạt độngtheo Nghị quyết số 24/2008/QH12 được tiếp tục hoạt động từ ngày 01/7/2012 cho đếnkhi Quốc hội có quyết định mới.
Thực hiện Nghị quyết số 36/2012/QH13, chế địnhThừa phát lại được triển khai thí điểm tại 13 địa phương trong cả nước, trongđó có thành phố Hải Phòng (trên địa bànthành phố có 03 văn phòng: Văn Phòng thừa phát lại Hải Phòng; Văn phòng Thừaphát lại Bạch Đằng và Văn phòng Thừa phát lại An Biên).
Ngày 18/10/2013 của Chính phủ đã ban hành Nghịđịnh số 135/2013/NĐ - CP về Sửa đổi, bổ sung tên gọi và một số điều của Nghị địnhsố 61/2009/NĐ - CP ngày 24/7/2009 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Thừaphát lại thực hiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh. Theo đó, tổ chức và hoạtđộng của Thừa phát lại tại một số địa phương sẽ thực hiện theo quy định tại Nghịđịnh 61/2009/NĐ - CP và Nghị số 135/2013. Ngày 28/4/2014 Bộ tư pháp - Toà án nhândân tối cao - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ tài chính đã ban hành Thôngtư liên tịch số 09/2014 hướng dẫn thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lạitheo Nghị quyết số 36/2012/QH13 ngày 23/11/2012 của Quốc hội.
Như vậy đến nay, việc tổ chức thi hành các bảnán, quyết định của Toà án (trừ các khoản thuộc thi hành án chủ động) được thihành theo quy định của Luật thi hành án dân sự, ngoài Cơ quan thi hành án dân sựquy định tại Điều 3 Luật thi hành án dân sự thì Văn phòng Thừa phát lại đượcthành lập cũng được tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Toà án theo yêucầu của đương sự.
Về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Thừaphát lại Điều 3 Nghị định 61/2009/NĐ-CP quy định công việc thừa phát lại đượclàm:
1. Thực hiện việc tống đạt theo yêu cầu củaToà hoặc Cơ quan thi hành án dân sự.
2. Lập vi bằng theo yêu cầu của cá nhân, cơquan, tổ chức.
3. Xác minh điều kiện thi hành án theo yêu cầucủa đương sự.
4. Trực tiếp tổ chức thi hànhcác bản án, quyết định của Toà án theo yêu cầu của đương sự. Thừa phát lạikhông tổ chức thi hành án các bản án, quyết định thuộc diện Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự chủ động raquyết định thi hành án.
Với quy định nêu trên, thì người được thihành án có quyền làm đơn yêu cầu một văn phòng Thừa phát lại hoặc Cơ quan thihành án dân sự tổ chức thi hành án, nhưng nếu yêu cầu về cùng một nội dung,cùng một thời điểm thì chỉ được lựa chọn là Thừa phát lại hoặc Cơ quan thi hànhán chứ không yêu cầu cả hai (Điều 35 Nghị định 61).
Vấn đề đặt ra: Trong cùng một nội dung, nhưng khác thời điểmvà việc thi hành án dân sự đã được Cơ quan thi hành án dân sự đình chỉ thi hànhtheo điểm c khoản 1 Điều 50 Luật thì hành án thì người được thi hành án có quyềnyêu cầu văn phòng Thừa phát lại tổ chức thi hành hay không và Thừa phát lại cóquyền được thụ lý tổ chức thi hành tiếp hay không? Về vấn đề này có nhiều ý kiếnkhác nhau
Ý kiến thứ nhấtcho rằng căn cứ Điểm b Khoản 1 Điều 43 Nghị định 61/2009/NĐ-CP thì Việc thihành án của Thừa phát lại chấm dứt trong trường hợp vụ việc bị đình chỉ theoquy định của pháp luật. Vì vậy Cơ quan thi hành án đã ra quyết định đình chỉthi hành án được coi là thuộc trường hợp quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 43Nghị định 61 nên Thừa phát lại không được tổ chức thi hành án tiếp.
Ý kiến thứ hai chorằng cơ quan Thi hành án dân sự đình chỉ thi hành án theo điểm điểm c khoản 1Điều 50 Luật thi hành án dân sự thì văn phòng Thừa phát lại vẫn có quyền tổ chứcthi hành án theo yêu cầu của đương sự, bởi các lý do:
- Tại điểm b khoản 1 Điều 43 Nghị định 61 quyđịnh “Vụ việc bị đình chỉ theo quy định củapháp luật” chứ không quy định việc thi hành án đã bị đình chỉ theo quy địnhcủa pháp luật, quy định đó chỉ áp dụng đốivới bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật nhưng sau đó bị giải quyết theo thủtục giám đốc thẩm và bị tuyên đình chỉ xét xử theo quy định tại Điều 217 và Điều346 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Theo quy định tại khoản 13 Điều 2 của Nghị địnhsố 135/2013/NĐ - CP ngày 18/10/2013 của Chính phủ
“Đối với các vụ việc đã được tổchức thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự nhưng sau đó đương sự có văn bảnyêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự không tiếp tục việc thi hành án và yêu cầuVăn phòng Thừa phát lại tổ chức thi hành hoặc ngược lại thì nội dung yêu cầu phảinêu rõ kết quả thi hành án trước đó, những nội dung yêu cầu tổ chức thi hành tiếpvà nội dung bảo lưu kết quả thi hành án trước đó (nếu có). Văn phòng thừa phátlại, cơ quan thi hành án dân sự có thể chấp thuận đề nghị bảo lưu kết quả thihành án trước đó của đương sự để làm căn cứ tiếp tục tổ chức thi hành án.”
Như vậy theo quy định tại Khoản 13 Điều 2 Nghịđịnh 135 nêu trên thì khi việc thi hành án bị đình chỉ theo điểm c khoản 1 Điều50 Luật thi hành án thuộc trường hợp người được thi hành án có văn bản yêu cầucơ quan thi hành án dân sự không tiếp tục được thi hành án, thì có quyền yêu cầuvăn phòng Thừa phát lại tiếp tục tổ chức thi hành và Văn phòng Thừa phát lại cóquyền thụ lý tổ chức thi hành án.
Trong thực tiễn hoạt động thi hành án, đã xảyra việc thi hành án liên quan đến bản án về tranh chấp quyền sử dụng đất. Cơquan Thi hành án dân sự huyện đã ra quyết định thi hành án theo yêu cầu. Trongquá trình tổ chức thi hành án thì người được thi hành án đến Cơ quan Thi hànhán dân sự yêu cầu Cơ quan thi hành án không tổ chức thi hành bản án nữa. Cơquan Thi hành án đã căn cứ yêu cầu của người được thi hành án và căn cứ điểm ckhoản 1 Điều 50 Luật Thi hành án dân sự ra quyết định đình chỉ thi hành án. Sauđó người được thi hành án có đơn gửi Uỷ ban nhân dân huyện đề nghị cấp giấy chứngnhận quyền sử dụng đất đối với phần diện tích đất đã được Toà án tuyên chomình. Uỷ ban nhân dân huyện từ chối cấp giấy chứng nhận với lý do: bản án củaToà án chưa được thi hành, chưa có cơ quan có thẩm quyền xác định và bàn giao mốcgiới theo quy định mà Cơ quan thi hành án dân sự đã ra quyết định đình chỉ rồithì không được thụ lý lại để thực hiện. Do đó, nếu không có một cơ quan khác đứngra tổ chức thi hành án thì quyền lợi của người được thi hành án cũng như cácquyết định của bản án sẽ không được thi hành trên thực tế.
Thiết nghĩ để đảm bảo quyền lợi cho người đượcthi hành án, và cũng là thực hiện chủ trương xã hội hoá một số công việc cóliên quan đến thi hành án dân sự theo Nghị quyết số 24 của Quốc hội. Cơ quan cóthẩm quyền cần quy định và có hướng dẫn chi tiết, cụ thể hơn đối với tổ chức vàhoạt động của Thừa phát lại theo hướng mở rộng địa hạt và quy định rõ nhiệm vụ,quyền hạn của Thừa phát lại khi tổ chức thi hành án dân sự đối với trường hợpnêu trên; giải thích rõ những vụ việc bịđình chỉ theo quy định của pháp luật (theo điểm b khoản 1 Điều 43 Nghị định 61)là những trường hợp nào để có cách hiểu thống nhất.
Nguyễn Thị Phương, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Lão