Vướng mắc trong xử lý đối với hành vi chế tạo trái phép thuốc pháo nổ để sản xuất pháo nổ
Vụ án thứ nhất: Ngày
30/12/2020, A bị Cơ quan Công an bắt quả tang đang sản xuất vật nghi là pháo nổ.
Cơ quan Công an đã thu giữ 110kg pháo thành phẩm, 03kg thuốc pháo nổ (theo kết
luận giám định của Cơ quan chuyên môn) và tổng khối lượng 10kg nguyên liệu khác
để sản xuất pháo nổ gồm giấy báo, giấy nilon, dây cháy chậm,... A khai mua các
nguyên liệu gồm KClO3 (Kali clorat), Lưu huỳnh (thành phần bắt buộc
có trong thuốc pháo), bột than hoa, giấy,… để sản xuất pháo nổ.
A khai về quy trình chế tạo thuốc pháo nổ: A dùng chày, cối giã mịn
than hoa, sau đó trộn đều bột mịn than hoa với lưu huỳnh và KClO3 với
tỷ lệ: 01kg KClO3 + 200gam lưu huỳnh + 200gam bột mịn than hoa.
Chế tạo dây cháy chậm bằng cách dùng màng nilon bọc thực phẩm trải
ra, đổ thuốc pháo nổ lên rồi dùng tay cuộn chặt màng nilon lại, vê thành dây
cháy chậm.
Sản xuất pháo: A dùng giấy cuộn lại thành hình trụ rỗng ở giữa, lấy ngòi
thuốc (dây cháy chậm) nhồi vào 01 đầu, sau đỏ đổ thuốc pháo vào trong ruột. Khi
thuốc pháo gần đầy, A đổ cát vào đầu còn lại, đổ keo 502 vào cát, gắn kín đầu
pháo. Cuối cùng, A cuộn giấy đỏ ra ngoài vỏ pháo và kết các quả pháo thành băng
pháo.
Giải quyết vụ án này về tội danh của A có 02 quan điểm:
Một là, hành vi của A chỉ cấu thành tội Sản xuất hàng cấm quy định tại Điều 190 Bộ
luật Hình sự năm 2015. A đã làm ra pháo nổ thành phẩm với khối lượng thuộc phạm
vi truy cứu trách nhiệm hình sự. Đối với việc còn thu giữ của A 03kg thuốc pháo
nổ nhưng dùng để sản xuất pháo nổ, việc chưa làm thành pháo thành phẩm đối với
khối lượng thuốc pháo nổ như trên là do nguyên nhân ngoài ý muốn chủ quan của
A. Do đó, cần tính tổng khối lượng thuốc pháo nổ này cùng các nguyên liệu khác
để sản xuất pháo nổ đã thu giữ của A để định khung đối với hành vi phạm tội của
A về tội Sản xuất hàng cấm.
Hai là, hành vi của A cấu thành 02 tội là Sản xuất hàng cấm và Chế tạo trái phép
vật liệu nổ, quy định tại Điều 190 và Điều 305 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Khoản 7 Điều 3 Luật Quản lý, sử dụng vũ
khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ quy định:
“Vật liệu nổ là sản phẩm dưới tác động của xung kích
thích ban đầu gây ra phản ứng hóa học nhanh, mạnh, tỏa nhiệt, sinh khí, phát
sáng, tạo ra tiếng nổ, bao gồm:
a) Thuốc nổ là hóa chất hoặc hỗn hợp chất được sản xuất, sử dụng nhằm tạo
ra phản ứng nổ dưới tác động của xung kích thích;
b) Phụ kiện nổ là kíp nổ, dây nổ, dây cháy chậm, mồi nổ, vật phẩm chứa
thuốc nổ có tác dụng tạo xung kích thích ban đầu làm nổ khối thuốc nổ hoặc
thiết bị chuyên dùng có chứa thuốc nổ”.
Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 36/NĐ-CP ngày
15/4/2009 của Chính phủ về quản lý, sử dụng pháo quy định: “Thuốc pháo nổ là hóa chất hoặc hỗn hợp hóa chất khi có tác
động của các kích thích cơ, nhiệt, hóa, điện gây nên một phản ứng hóa học nhanh,
nhạy, tỏa nhiệt, sinh khí và tạo ra tiếng nổ”.
Đồng thời, Thông tư liên tịch số 06/2008/TLTT-BCA-VKSNDTC-TANDTC
ngày 25/12/2008 quy định: “Người
nào… chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt
thuốc pháo, thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội “chế tạo, tàng trữ, vận
chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ” quy định tại Điều
232 BLHS” (BLHS năm 1999).
Do đó, giữa Nghị định số 36/NĐ-CP
ngày 15/4/2009, Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ
trợ và Thông tư liên tịch số 06/2008 thì đủ căn cứ xác định thuốc pháo nổ chính
là vật liệu nổ, chế tạo thuốc pháo là chế tạo vật liệu nổ.
Đồng thời tại Bản giám định của Cơ quan giám định đã kết luận có thu giữ của A 03kg thuốc pháo nổ và
các đoạn dây cháy chậm, A thừa nhận và khai ra cách thức làm, chế tạo thuốc
pháo nổ và các đoạn dây cháy chậm này. Như vậy hành vi chế tạo trái phép thuốc
pháo nổ, dây cháy chậm là hành vi chế tạo trái phép vật liệu nổ quy định tại Điều
305 Bộ luật Hình sự, quy định:
“1. Người nào chế tạo,
tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ,
thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp
sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:…
b) Thuốc nổ các loại từ 10 kilôgam đến dưới
30 kilôgam;
c) Các loại phụ kiện nổ có số lượng lớn;…”.
Đối với hành vi sử dụng thuốc pháo nổ cùng các nguyên liệu khác để
sản xuất thành pháo nổ thành phẩm sẽ cấu thành tội Sản xuất hàng cấm theo quy định
tại Điều 190 Bộ luật Hình sự năm 2015, quy định:
“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi
sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 232, 234, 244, 246, 248, 251, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ
100.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:…
c)
Sản xuất, buôn bán pháo nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam;…
2.
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 1.000.000.000
đồng đến 3.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:…
g)
Pháo nổ từ 40 kilôgam đến dưới 120 kilôgam;…”.
Từ các
căn cứ nêu trên, với hành vi của A là sản xuất 110kg pháo nổ (đã thành phẩm) và
chế tạo trái phép 03kg thuốc pháo nổ (mặc dù A chế tạo thuốc pháo nổ để sản xuất
pháo, nhưng chưa làm được pháo thành phẩm), phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự
về các tội Sản xuất hàng cấm và Chế tạo trái phép vật liệu nổ, theo khoản 2 Điều
190 và khoản 1 Điều 305 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Vụ án thứ hai: A bị bắt quả tang khi cũng đang sản xuất pháo nổ (theo lời khai thừa nhận
của A), nhưng chưa tạo ra pháo thành phẩm. Tất cả các nguyên liệu theo A khai
dùng để sản xuất pháo nổ và được Cơ quan Công an thu giữ là 110kg gồm: Thuốc
pháo nổ, dây cháy chậm, giấy màu,...
Có quan điểm cho rằng cần khởi tố A về tội Sản xuất hàng cấm theo Điều 190
Bộ luật Hình sự năm 2015, trường hợp này sẽ xem xét tình tiết “Phạm tội chưa đạt”
theo Điều 15 Bộ luật Hình sự.
Quan điểm của chúng tôi đối với vụ án này: Đối chiếu với quy định tại Điều
190 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì khối lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự phải
là “Pháo nổ” (tức là pháo thành phẩm) từ 06kg trở lên.
Cần phải lưu ý, việc kết luận thế nào là pháo nổ phải thuộc chuyên môn của Cơ
quan giám định. Trong trường hợp chưa thu giữ được pháo thành phẩm thì liệu chỉ
với các nguyên liệu như vậy, các cơ quan tố tụng có thể khẳng định các nguyên
liệu đó có thể tạo ra “Pháo nổ” hay không? Và nếu không trải qua quy trình giám
định gắt gao gồm cả việc “thử nghiệm” thì Cơ quan giám định có thể khẳng định
các nguyên liệu đó có thể tạo ra “Pháo nổ” hay không khi mà đối tượng phạm tội không
phải đối tượng sản xuất chuyên nghiệp? Do đó đối với vụ việc này, quan điểm truy
cứu trách nhiệm hình sự đối với A về tội Sản xuất hàng cấm, với tình tiết “phạm
tội chưa đạt” là chưa thuyết phục, đặc biệt giai đoạn hiện nay phải áp dụng
nguyên tắc suy đoán vô tội theo Bộ luật Tố tụng hình sự.
Một vướng
mắc nữa là khoản 2 Điều 17 Luật Tổ chức Cơ quan điều tra hình sự thì đối với tội
phạm quy định tại khoản 1 Điều 305 Bộ luật Hình sự thuộc thẩm quyền điều tra của
Cơ quan An ninh điều tra Công an cấp tỉnh, nhưng Điều 268 Bộ luật Tố tụng hình
sự thì thẩm quyền xét xử thuộc về Tòa án nhân dân cấp huyện, dẫn chiếu đến Điều
163 Bộ luật Tố tụng hình sự thì thẩm quyền điều tra vụ án đối với tội phạm này
vẫn thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện. Vậy thẩm quyền điều tra,
truy tố, xét xử thuộc Cơ quan cấp nào đối với tội Chế tạo trái phép vật liệu nổ
quy định tại Điều 305 Bộ luật Hình sự năm 2015, trong khi Bộ luật Tố tụng hình
sự và Luật Tổ chức Cơ quan điều tra hình sự đều không có quy phạm hướng dẫn cụ
thể về việc có áp dụng Luật chuyên ngành nếu có mâu thuẫn hay không?
Rất
mong nhận được ý kiến phân tích, bình luận của các đồng nghiệp đối với các vụ
việc nêu trên.
Tổ
tuyên truyền VKSND huyện An Lão