Xử lý tài sản do phạm tội mà có đã mang đi trả nợ: giải quyết như thế nào cho đúng?
17/05/2019
Trong quá trình thực hiện các quy định của pháp luật về xử lý vật
chứng, Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An đã gặp phải nhiều cách hiểu khác
nhau trong việc xử lý tài sản người phạm tội đã chiếm đoạt, sau đó đã mang đi
trả nợ cho người thứ ba. Cụ thể đối với vụ án như sau:
Khoảng 23 giờ ngày 27/01/2019, Nguyễn Quang A đã đột nhập vào nhà ông
Trần Thành X trộm cắp số tiền là 50 triệu đồng. Quá trình điều tra, Nguyễn
Quang A khai nhận đã trả nợ cho Nguyễn Quang B 40 triệu đồng trong số tiền đã
trộm cắp (không chứng minh được B biết và liên quan đến hành vi phạm tội của A),
số tiền còn lại Nguyễn Quang A đã tiêu xài cá nhân hết. Nguyễn Quang B cũng
thừa nhận việc này, B đã tiêu xài hết 40 triệu trên và không đồng ý trả lại số
tiền này cho ông X vì cho rằng đây là số tiền A trả nợ cho B, A mới phải là
người có trách nhiệm bồi thường cho ông X.
Vậy hướng giải quyết đối với số tiền 40 triệu đồng trên như thế nào? Trong
thực tế đã xuất hiện 2 quan điểm trái chiều:
Quan điểm thứ nhất, căn cứ Điều 89 Bộ luật Tố tụng hình sự: “Vật chứng là vật được dùng làm
công cụ, phương tiện phạm tội, vật mang dấu vết tội phạm, vật là đối tượng của
tội phạm, tiền hoặc vật khác có giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội
hoặc có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án”. Số tiền 40 triệu đồng
Nguyễn Quang B đã tiêu hết, đây là trường hợp vật chứng không thu hồi được, kể
cả hiện tại tài sản của B có đủ số tiền 40 triệu nhưng số tiền 40 triệu này
cũng không phải vật chứng của vụ án (không trùng seri, không mang dấu vết tội
phạm, không có giá trị chứng minh tội phạm, cũng không có ý nghĩa trong việc
giải quyết vụ án). Do đó, không thể áp dụng quy định về xử lý vật chứng tại
Điều 106 BLTTHS. Trường hợp này chỉ có thể giải quyết theo yêu cầu bồi thường của
ông Trần Thành X.
Mặt khác, B nhận số tiền trên từ A do A nợ B, B không biết số tiền này
do A phạm tội mà có, do đó B thuộc trường hợp chiếm hữu ngay tình quy định tại Điều 180 BLDS (điều luật quy định “Chiếm hữu ngay tình là việc chiếm hữu mà người
chiếm hữu có căn cứ để tin rằng mình có quyền đối với tài sản đang chiếm hữu”). Do đó, B không có trách nhiệm phải trả lại
40 triệu nói trên. Nghĩa vụ bồi thường trong trường hợp này thuộc về A.
Quan điểm thứ hai, căn
cứ Khoản 2, Điều 47 BLTTHS: “Đối với vật, tiền bị người phạm tội chiếm đoạt hoặc sử dụng
trái phép, thì không tịch thu mà trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp
pháp...”. Như vậy, mặc dù Nguyễn Quang B không biết
và không có trách nhiệm phải biết số tiền 40 triệu đồng là do A phạm tội mà có,
nhưng thực tế số tiền mà B đã nhận từ A đúng là do phạm tội mà có, do đó B phải
có trách nhiệm trả lại cho chủ sở hữu số tiền trên.
Chúng tôi nghiêng về quan điểm thứ hai, bởi
trong vụ án trên, quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại phải được ưu tiên trước
tiên, giải quyết như quan điểm thứ nhất sẽ dẫn đến tiền lệ xấu trong việc tẩu
tán tài sản do phạm tội mà có, gây ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp
pháp của bị hại. Đối với việc A nợ B số tiền 40 triệu đồng sẽ được giải quyết
trong vụ án dân sự khác nếu B có yêu cầu.
Chúng tôi rất mong được trao đổi cùng các
đồng nghiệp đối với vướng mắc như trên./.
Tổ tuyên truyền VKSND quận Kiến An