Một số vướng mắc về việc thanh toán lãi suất chậm trả trong vụ án Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá
Theo đơn khởi kiện
của Công ty cổ phần hoá chất C: Từ
năm 2023 đến năm 2025 Công
ty cổ phần hoá chất C và Công ty TNHH một thành viên TM&DV H có ký kết 07 Hợp đồng mua bán hoá chất, cụ thể:
1/ Hợp đồng số 100823 ngày 10.8.2023 bán chủng loại hoá chất Soda Ash dense suất xứ Thổ
Nhĩ Kỹ/Mỹ với khối lượng 46 tấn với số tiền là 347.760.000 đồng;
2/Hợp đồng số 09.2023 ngày 25.8,.2025 bán
cho chủng loại hoá chất Soda Ash dense suất
xứ Thổ Nhĩ Kỹ/Mỹ với khối lượng 30 tấn với số tiền là 226.800.000 đồng;
3/ Hợp đồng số 10. 023/CTCHEM- HV ngày 20/10/2023 bán chủng loại hoá chất Soda Ash dense suất xứ
Thổ Nhĩ Kỹ/Mỹ với khối lượng 30 tấn với số tiền là 265.680.000 đồng;
4/Hợp
đồng số 11. 2023/CTCHEM -HV ngày 01/11/2023, bán chủng loại hoá chất Soda Ash dense suất xứ Thổ
Nhĩ Kỹ/Mỹ với khối lượng 30 tấn với số tiền là 243.000.000 đồng
5/ Hợp đồng số 12. 2023/CTCHEM-HV ngày 05/11/2023, bán chủng loại hoá chất Soda Ash dense suất xứ Thổ
Nhĩ Kỹ/Mỹ với khối lượng 30 tấn với số tiền là 243.000.000 đồng ;
6/Hợp đồng số 13. 2023/ CTCHEM- HV ngày 25/11/2023 bán cho chủng loại hoá chất Soda Ash dense suất xứ
Thổ Nhĩ Kỹ/Mỹ với khối lượng 30 tấn với số tiền là 243.000.000 đồng;
7/Hợp đồng số 14. 2023/ CTCHEM- HV ngày 20/11/20024 bán chủng
loại hoá chất Soda Ash dense suất xứ Thổ Nhĩ Kỹ/Mỹ với khối lượng 30 tấn với số
tiền là 249.480.000 đồng.
Trong các Hợp đồng mà hai bên đã ký kết và thực
hiện, đều có điều khoản phạt vi phạm hợp đồng với mức phạt 8% giá trị phần
nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm (Điều 7 Hợp đồng) và lãi suất trả chậm bằng
15%/năm cho số tiền chậm thanh toán (khoản 4, Điều 4 Hợp đồng).
Công
ty cổ phần Hoá chất C đã thực hiện đúng các nghĩa vụ theo quy định của Hợp đồng,
giao hàng cho Công ty TNHH
một thành viên TM&DV H đúng ngày. Tuy nhiên, Công ty H luôn chậm
thanh toán các đơn hàng theo Hợp đồng cho Công ty C. Căn cứ vào Biên bản đối
chiếu công nợ số 071.25/BBĐCCN-CT mà hai Bên ký ngày 07/01/2025 thì tổng công nợ
phát sinh từ 07 Hợp đồng là 2,030,539,000 VNĐ, trong đó: Công nợ là
1.788.131.704 đồng; Lãi quá hạn là 242.407.328 đồng. Công ty H đã thanh toán
cho Công ty C 600,000,000 VNĐ, công nợ còn lại mà Công ty H phải thanh toán là
1,430,539,000 VNĐ (bằng chữ: Một tỷ, bốn trăm ba mươi triệu, năm trăm ba mươi
chín nghìn Việt Nam đồng).
Công ty cổ phần hoá chất C nhiều lần yêu cầu Công ty H thanh toán nốt số
tiền 1,430,539,000 VNĐ nhưng cho tới nay Công ty H không thanh toán, không có
hành động thiện chí nào về việc thanh toán số tiền trên, điều này đã vi phạm
nghiêm trọng các quy định của Hợp đồng. Vì thế, Công ty cổ phần hoá chất C yêu cầu Toà án buộc Công ty H thanh toán tổng số tiền 1,643,385,000
VNĐ (Một tỷ, sáu trăm bốn mươi ba triệu, ba trăm tám mươi lăm nghìn Việt Nam đồng),
chi tiết các khoản như sau: Số tiền công nợ và lãi chậm thanh toán mà Công ty H
chưa thanh toán tính đến ngày 07/01/2025 là 1,430,539,000 VNĐ (bằng chữ: Một tỷ,
bốn trăm ba mươi triệu, năm trăm ba mươi chín nghìn Việt Nam đồng); Số tiền lãi
suất chậm thanh toán tạm tính từ ngày 07/01/2025 đến ngày 06/5/2025 (119 ngày)
với mức lãi suất 15%/năm (0.041%/ngày) là: 1,430,539,000 x 0.041% x 119 =
69,796,000 VNĐ (Sáu mươi chín triệu, bảy trăm chín mươi sáu nghìn Việt Nam đồng);
Số tiền phạt vi phạm hợp đồng mức phạt 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi
phạm là: 1,788,131,704 x 8%=143,050,000 VNĐ (Một trăm bốn mươi ba triệu, không
trăm năm mươi nghìn Việt Nam đồng).

Ảnh minh hoạ
Trong quá trình giải quyết đối với phần thanh toán lãi suất chậm thanh
toán hiện nay có một số quan điểm như sau:
+ Quan điểm thứ nhất:
Có đủ căn cứ khẳng định Công ty cổ phần hoá chất C có ký kết 07 hợp đồng mua bán hoá chất với Công ty TNHH một thành viên TM&DV H. Công ty TNHH một thành viên TM&DV H chưa thanh toán tiền theo hợp đồng đã
vi phạm nghĩa vụ đã thỏa
thuận nên nguyên đơn có quyền yêu cầu Công ty
TNHH một thành viên TM&DV
H có trách
nhiệm trả tiền nợ gốc, tiền lãi, lãi suất chậm thanh toán theo hợp đồng đã thỏa
thuận theo quy định tại Điều 466 BLDS. Do đó yêu cầu của Công ty cổ phần
Hoá chất C buộc Công ty TNHH một thành viên TM&DV H thanh toán tiền gốc,
tiền lãi, tiền phạt vi phạm hợp đồng và lãi suất chậm trả là có căn cứ nên cần
được chấp nhận là: buộc Công
ty H thanh toán tổng số tiền 1,643,385,000 VNĐ, chi tiết các khoản như sau: Số
tiền công nợ và lãi chậm thanh toán mà Công ty H chưa thanh toán tính đến ngày
07/01/2025 là 1,430,539,000 VNĐ; Số tiền lãi suất chậm thanh toán tạm tính từ
ngày 07/01/2025 đến ngày 06/5/2025 (119 ngày) với mức lãi suất 15%/năm
(0.041%/ngày) là: 1,430,539,000 x 0.041% x 119 = 69,796,000 VNĐ; Số tiền phạt
vi phạm hợp đồng mức phạt 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm là:
1,788,131,704 x 8%=143,050,000 VNĐ và tiếp tục phải chịu lãi cho đến
khi thực hiện xong nghĩa vụ thanh toán
+ Quan
điểm thứ hai:
Hiện
nay có các quy định khác của pháp luật về thanh toán lãi chậm trả đó là quy định tại Điều 306 Luật Thương mại năm
2005: Trường hợp bên vi phạm hợp đồng chậm thanh toán tiền hàng hay chậm thanh
toán thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác thì bên vi phạm hợp đồng có quyền
yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quá hạn trung
bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán.
Bên bị đơn yêu cầu trả lãi suất số tiền chậm trả trước
đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh
toán. Vấn đề này được Nghị quyết số 01 ngày 11/01/2019 của HĐTP TANDTC hướng dẫn
áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi suất, phạt vi phạm.
“Điều 11. Xác định lãi suất trung bình quy định tại Điều
306 của Luật Thương mại năm 2005
Trường hợp hợp đồng thuộc phạm vi điều chỉnh tại Điều
306 của Luật Thương mại năm 2005 thì khi xác định lãi suất chậm trả đối với số
tiền chậm trả, Tòa án căn cứ vào mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị
trường của ít nhất 03 (ba) ngân hàng thương mại (Ngân hàng thương mại cổ phần
Ngoại thương Việt Nam, Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam, Ngân
hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam,...) có trụ sở, chi nhánh hoặc
phòng giao dịch tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi Tòa án đang giải
quyết, xét xử có trụ sở tại thời điểm thanh toán (thời điểm xét xử sơ thẩm) để
quyết định mức lãi suất chậm trả, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc
pháp luật có quy định khác.”
Theo yêu cầu của bị đơn Toà án đã thu thập lãi suất trung
bình của 3 ngân hàng cổ phần thương mại nơi có trụ sở Toà án giải quyết thì mỗi
ngân hàng quy định lãi suất khác nhau từ 10% đến 12% /năm.
Theo ý
kiến của tác giả thì đồng ý với quan điểm thứ nhất, trong hợp đồng có quy định về mức lãi suất chậm trả
thì phải căn cứ vào hợp đồng để giải quyết. Trường hợp trong hợp đồng không thoả
thuận về mức lãi suất châm trả thì mới căn cứ vào mức lãi suất trung bình như
đã nêu trên.
Phạm Thị Huệ - VKSND khu vực 9 – Hải Phòng