Tha tù trước thời hạn có điều kiện và quyền bầu cử của người được tha tù trước thời hạn
Tha tù trước thời hạn có điều kiện là biện pháp được Tòa án áp dụng đối với người đang chấp hành án phạt tù khi có đủ các điều kiện theo quy định của Bộ luật Hình sự, xét thấy không cần buộc họ phải tiếp tục chấp hành án phạt tù tại cơ sở giam giữ.

(ảnh minh họa)

          Như vậy, tha tù trước thời hạn là “tạm tha tù có điều kiện”, nó như là một biện pháp nhân đạo trong công tác cải tạo giáo dục phạm nhân, giúp các phạm nhân sớm trở về với cộng đồng để sửa chữa lỗi lầm dưới sự giúp đỡ và giám sát của gia đình, chính quyền địa phương. Người đang chấp hành án phạt tù tại trại giam được “tha bổng” trước thời hạn, nhưng phải thực hiện nghiêm chỉnh một số nghĩa vụ do Tòa án ấn định, trong thời gian nhất định, nếu vi phạm nghĩa vụ họ có thể bị hủy bỏ quyết định tha tù trước thời hạn để tiếp tục chấp hành hình phạt còn lại tại trại giam. Tha tù trước thời hạn có điều kiện là chế định mới được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015, thể hiện chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta, khuyến khích người chấp hành án phạt tù tích cực học tập, cải tạo để sớm được tái hòa nhập cộng đồng.

       Tại Điều 66 Bộ luật Hình sự 2015 đã quy định:

1. Người đang chấp hành án phạt tù về tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng mà đã được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù hoặc người đang chấp hành án phạt tù về tội phạm ít nghiêm trọng có thể được tha tù trước thời hạn khi có đủ các điều kiện sau đây:

        a) Phạm tội lần đầu;

        b) Có nhiều tiến bộ, có ý thức cải tạo tốt;

        c) Có nơi cư trú rõ ràng;

       d) Đã chấp hành xong hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại và án phí;

       đ) Đã chấp hành được ít nhất là một phần hai mức phạt tù có thời hạn hoặc ít nhất là 15 năm đối với trường hợp bị phạt tù chung thân nhưng đã được giảm xuống tù có thời hạn.

Trường hợp người phạm tội là người có công với cách mạng, thân nhân của người có công với cách mạng, người đủ 70 tuổi trở lên, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi thì phải chấp hành được ít nhất là một phần ba mức phạt tù có thời hạn hoặc ít nhất là 12 năm đối với trường hợp bị phạt tù chung thân nhưng đã được giảm xuống tù có thời hạn;

        e) Không thuộc một trong các trường hợp phạm tội quy định tại khoản 2 Điều này.

        Tại Nghị quyết số 01/2018/ NQ-HĐTP ngày 24/4/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về tha tù trước thời hạn có điều kiện đã quy định:

       Người đang chấp hành án phạt tù về tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 66 của Bộ luật Hình sự có thể được tha tù trước thời hạn khi có đủ các điều kiện sau đây:

        - Đã được giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù: Theo quy định của Bộ luật hình sự tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 03 năm tù đến 07 năm tù. Như vậy những bị án phạm tội có khung hình phạt trên 3 năm tù trở lên muốn được áp dụng biện pháp tha tù trước thời hạn có điều kiện thì trước đó họ phải được giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù;

     - Phạm tội lần đầu: Người đó trước đó chưa phạm tội lần nào; Trước đó đã thực hiện hành vi phạm tội nhưng được miễn trách nhiệm hình sự; Trước đó đã thực hiện hành vi phạm tội nhưng được áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng; Trước đó đã bị kết án nhưng thuộc trường hợp được coi là không có án tích.

     - Có nhiều tiến bộ, ý thức cải tạo tốt: Đó là những phạm nhân chấp hành nghiêm túc nội quy trại giam, tích cực học tập;

     - Có nơi cư trú rõ ràng: người đó có chỗ ở hợp pháp mà người đó thường xuyên sinh sống. Việc xác định nơi cư trú rõ ràng của người bị kết án khi tha tù trước thời hạn có điều kiện giúp thuận lợi cho việc quản lý, giám sát người bị kết án trong quá trình chấp hành thời gian thử thách;

     - Đã chấp hành xong hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, án phí và các nghĩa vụ về dân sự: đó là, đã nộp đầy đủ các khoản tiền phạt và án phí thể hiện ở các biên lai, chứng từ hoặc có quyết định miễn chấp hành hình phạt tiền, miễn nộp án phí của Tòa án; Đã thực hiện xong nghĩa vụ bồi thường thiệt hại theo bản án, quyết định của Tòa án; có quyết định đình chỉ thi hành án của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền; có thỏa thuận bằng văn bản của bị hại hoặc đại diện hợp pháp của bị hại về việc không phải thi hành nghĩa vụ bi thường thiệt hại theo bản án, quyết định của Tòa án được cơ quan có thẩm quyền xác nhận.

    - Đã chấp hành được ít nhất một phần hai mức thời hạn tù đối với hình phạt tù có thời hạn hoặc ít nhất 15 năm đối với hình phạt tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn.Trường hợp đặc biệt, người phạm tội là thương binh, bệnh binh, thân nhân gia đình liệt sỹ, gia đình có công với cách mạng, người đủ 70 tuổi trở lên, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi thì thời gian chấp hành ít nhất là một phần ba hình phạt tù có thời hạn hoặc ít nhất 12 năm đối với tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn.

       Người đang chấp hành án phạt tù về tội phạm ít nghiêm trọng, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 66 của Bộ luật Hình sự có thể được tha tù trước thời hạn có điều kiện khi có đủ các điều kiện được hướng dẫn tại các Khoản 2, 3, 4, 5 và 6 Điều 2 của Nghị quyết này.

       Quyền bầu cử là một trong những quyền cơ bản của công dân, Điều 27 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử”. Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, tại Điều 30 khoản 1 đã quy định những trường hợp không được ghi tên vào danh sách cử tri như sau: “Người đang bị tước quyền bầu cử theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, người bị kết án tử hình đang trong thời gian chờ thi hành án, người đang chấp hành hình phạt tù mà không được hưởng án treo, người mất năng lực hành vi dân sự thì không được ghi tên vào danh sách cử tri.” Như vậy, những người không có quyền bầu cử gồm: Người đang bị tước quyền bầu cử theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, người bị kết án tử hình đang trong thời gian chờ thi hành án, người đang chấp hành hình phạt tù mà không được hưởng án treo, người mất năng lực hành vi dân sự. Người đang chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, án treo, cảnh cáo, phạt tiền… vẫn có quyền bầu cử. Trong thực tiễn có nhiều trường hợp được tha tù trước thời hạn có điều kiện, đang trong thời gian thử thách, vậy họ có quyền bầu cử hay không. Có ý kiến cho rằng những người được tha tù trước thời hạn, có nghĩa là họ không đang phải chấp hành hình phạt tù nữa nên theo quy định tại Điều 30 khoản 1 Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân thì họ có quyền bầu cử. Nhưng cũng có quan điểm cho rằng người được tha tù trước thời hạn không có quyền bầu cử vì người được tha tù trước thời hạn vẫn đang trong thời gian chấp hành hình phạt tù. Chúng tôi đồng tình với quan điểm người được tha tù trước thời hạn có điều kiện không có quyền bầu cử bởi lẽ: người đang chấp hành án phạt tù chỉ được đưa ra khỏi nơi giam giữ (không phải chấp hành hình phạt tù tại nơi giam giữ) trước thời hạn để tái hòa nhập cộng đồng, đây được coi là một biện pháp trong thi hành án phạt tù. Khi được tha tù trước thời hạn, người đó phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách. Nếu trong thời gian thử thách mà người được tha tù vi phạm các nghĩa vụ, vi phạm pháp luật hành chính 02 lần trở lên thì quyết định tha tù trước thời hạn bị hủy bỏ, người đó phải chấp hành phần hình phạt còn lại chưa chấp hành trong trại giam. Như vậy, về bản chất pháp lý người được tha tù trước thời hạn có điều kiện vẫn là người đang chấp hành án phạt tù, họ chỉ được thay thế hình thức từ chấp hành án trong tại giam sang chấp hành tại cộng đồng xã hội. Người được tha tù trước thời hạn có điều kiện không có quyền bầu cử theo quy định của pháp luật.

Đặng Khắc Thắng, Phó viện trưởng VKSND huyện An Dương


Ứng dụng hỗ trợ nghiệp vụ
Tin tức
Thông tin cần biết
Thống kê truy cập
  • Đang online: 15
  • Hôm nay: 1353
  • Trong tuần: 11 357
  • Tất cả: 1 241 787
Trang thông tin điện tử: VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG - Cơ quan chủ quản: VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO
Địa chỉ: Lô 18A, Lê Hồng Phong, Hải An, TP Hải Phòng - Điện thoại: 02253.838308 - Fax: 02253.839072 - Email: vp_haiphong@vks.gov.vn
Trưởng ban biên tập: Phó Viện trưởng Lưu Xuân Sang
Số giấy phép: 03/GP-STTTT do Sở Thông tin và Truyền thông TP Hải Phòng cấp ngày 17 tháng 10 năm 2017 (Giấy phép có giá trị 10 năm)
Bản quyền thuộc về VKSND TP Hải Phòng - Thiết kế bởi VNPT | Quản trị