Bàn về việc xác định nghĩa vụ nộp án phí hình sự.
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án (Nghị quyết số 326) ra đời, là cơ sở pháp lý quan trọng để các cơ quan tiến hành tố tụng triển khai thực hiện và kiểm sát việc thu, nộp, miễn, giảm và giải quyết khiếu nại về án phí, lệ phí Tòa án. Tuy nhiên, trên thực tiễn, hiện nay, nhiều đơn vị đang có cách hiểu và vận dụng khác nhau trong việc xác định nghĩa vụ nộp án phí hình sự, dẫn tới công tác thực thi pháp luật không thống nhất, đồng thời ảnh hưởng không nhỏ tới quyền, nghĩa vụ của bị cáo cũng như việc thu nộp ngân sách Nhà nước. 

Điều 12 Nghị quyết số 326 quy định chung về các trường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án, lệ phí Tòa án:

“Điều 12. Miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án, lệ phí Tòa án

1. Những trường hợp sau đây được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí:

a) Người lao động khởi kiện đòi tiền lương, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, tiền bồi thường về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; giải quyết những vấn đề bồi thường thiệt hại hoặc vì bị sa thải, chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật;

b) Người yêu cầu cấp dưỡng, xin xác định cha, mẹ cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự;

c) Người khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong việc áp dụng hoặc thi hành biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn;

d) Người yêu cầu bồi thường về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín;

đ) Trẻ em; cá nhân thuộc hộ nghèo, cận nghèo; người cao tuổi; người khuyết tật; người có công với cách mạng; đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; thân nhân liệt sĩ được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận gia đình liệt sĩ.

2. Những trường hợp quy định tại điểm đ khoản 1 Điều này được miễn các khoản tạm ứng lệ phí Tòa án, lệ phí Tòa án quy định tại khoản 1 Điều 4 của Nghị quyết này.

3. Trường hợp các đương sự thỏa thuận một bên chịu toàn bộ án phí hoặc một phần số tiền án phí phải nộp mà bên chịu toàn bộ án phí hoặc một phần số tiền án phí phải nộp thuộc trường hợp được miễn nộp tiền án phí thì Tòa án chỉ xem xét miễn án phí đối với phần mà người thuộc trường hợp được miễn phải chịu theo quy định, của Nghị quyết này. Phần án phí, lệ phí Tòa án mà người đó nhận nộp thay người khác thì không được miễn nộp.”

Trên thực tiễn, đối với những đối tượng được quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326 (Trẻ em; cá nhân thuộc hộ nghèo, cận nghèo; người cao tuổi; người khuyết tật; người có công với cách mạng; đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; thân nhân liệt sĩ được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận gia đình liệt sĩ) trong trường hợp có đủ hồ sơ theo quy định tại Điều 14 Nghị quyết này, hiện nay đang có 2 cách hiểu và áp dụng về việc miễn nộp án phí hình sự như sau:

Quan điểm thứ nhất cho rằng: Điều 12 Nghị quyết số 326 đã quy định rõ những đối tượng này thuộc diện được miễn án phí nói chung nên khi có đủ điều kiện (hồ sơ, thủ tục) thì đương nhiên được miễn án phí hình sự (cả giai đoạn sơ thẩm và phúc thẩm). Bởi lẽ đây là những đối tượng đặc biệt trong xã hội, đã được liệt kê để ưu tiên miễn trách nhiệm nộp chi phí giải quyết các vụ án cho Nhà nước (án phí), nên không loại trừ cả vụ án hình sự.

 Quan điểm thứ hai cho rằng: những đối tượng này vẫn phải nộp án phí hình sự vì các lý do sau:

Thứ nhất, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự là đạo luật có giá trị cao hơn Nghị quyết số 326 đã quy định:

“2. Án phí do người bị kết án hoặc Nhà nước chịu theo quy định của Pháp luật. Người bị kết án phải trả án phí theo quyết định của Tòa án. Mức án phí và căn cứ áp dụng được ghi rõ trong bản án, quyết định của Tòa án.

3. Trường hợp vụ án khởi tố theo yêu cầu của bị hại, nếu Tòa án tuyên bố bị cáo không có tội hoặc vụ án bị đình chỉ khi có căn cứ quy định tại Khoản 2 Điều 155 của Bộ luật này thì bị hại trả án phí.”

Theo đó, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Khoản 3 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, hoặc trường hợp Nhà nước phải chịu án phí (ví dụ Bản án bị kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm nhưng không được tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận, tuyên y án sơ thẩm hoặc tòa án cấp phúc thẩm tuyên chấp nhận kháng cáo bản án sơ thẩm của bị cáo…), thì người bị kết án, dù là bất kỳ ai đều có nghĩa vụ nộp án phí.

Thứ hai, Điều 23 Nghị quyết số 326 quy định cụ thể về nghĩa vụ chịu án phí hình sự trong vụ án hình sự:

“Điều 23: Nghĩa vụ chịu án phí trong vụ án hình sự

1. Nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm trong vụ án hình sự:

a) Người bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm;

b) Bị hại đã yêu cầu khởi tố phải chịu án phí hình sự sơ thẩm trong trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của bị hại, mà sau đó Tòa án tuyên bố bị cáo không có tội hoặc vụ án bị đình chỉ do người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự;…

2. Nghĩa vụ chịu án phí phúc thẩm trong vụ án hình sự:

a) Trường hợp cả bị cáo và người đại diện của bị cáo đều có kháng cáo quyết định về hình sự của bản án sơ thẩm mà Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên quyết định về hình sự của bản án sơ thẩm thì chỉ bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm;

b) Trường hợp chỉ bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo kháng cáo quyết định về hình sự của bản án sơ thẩm mà Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên quyết định về hình sự của bản án sơ thẩm thì người kháng cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm;

c) Trường hợp bị cáo kháng cáo quyết định về hình sự và người đại diện của bị cáo kháng cáo quyết định về dân sự hoặc ngược lại mà Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm thì người nào kháng cáo về phần nào phải chịu án phí đối với yêu cầu của họ;

d) Trường hợp bị cáo kháng cáo quyết định về hình sự và người đại diện của bị cáo kháng cáo quyết định về dân sự hoặc ngược lại mà Tòa án quyết định sửa quyết định về hình sự hoặc sửa quyết định về dân sự hoặc sửa cả quyết định về hình sự và quyết định về dân sự thì không có người kháng cáo nào phải chịu án phí phúc thẩm;

đ) Bị hại kháng cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm trong trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của bị hại nếu Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên quyết định của bản án, quyết định sơ thẩm hoặc tuyên bố bị cáo không phạm tội;

…f) Trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án, quyết định sơ thẩm để điều tra, xét xử lại hoặc đình chỉ vụ án thì người kháng cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm;

g) Người kháng cáo rút đơn kháng cáo trước khi mở phiên tòa phúc thẩm hoặc tại phiên tòa phúc thẩm không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm;

h) Người kháng cáo không phải chịu án phí phúc thẩm trong trường hợp yêu cầu kháng cáo của họ được Tòa án chấp nhận.”

Theo quy định này, Điều 23 Nghị quyết số 326 không loại trừ nghĩa vụ nộp án phí đối với bất kỳ đối tượng nào thuộc diện được quy định điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết này. Nghĩa là nếu không phải những đối tượng được liệt kê cụ thể trong Điều 23 Nghị quyết số 326 (từ điểm đ đến điểm h khoản 2) thì người bị kết án, dù là bất kỳ ai cũng có nghĩa vụ phải chịu án phí hình sự. Hơn nữa, so sánh với các quy định cụ thể của Nghị quyết số 326 về nghĩa vụ nộp án phí dân sự (Điều 26, Điều 29), nghĩa vụ nộp án phí hành chính (Điều 32, Điều 34), đều thấy có nội dung loại trừ đối tượng được miễn hoặc không phải chịu án phí sơ thẩm, phúc thẩm nhưng Điều 23 hoàn toàn không đề cập đến. Xét trong tính chỉnh thể của văn bản quy phạm pháp luật, các quy định riêng sẽ được ưu tiên áp dụng so với quy định chung và những trường hợp loại trừ (nếu có) sẽ phải được liệt kê cụ thể hoặc dẫn chiếu tới quy định nguồn (có nội dung loại trừ) thì mới có giá trị áp dụng. Vì vậy, cần ưu tiên áp dụng quy định của Nghị quyết số 326 tại Điều 23 chứ không phải quy định tại Điều 12 để xác định người phải nộp án phí hình sự.

Thứ ba, trong chính Nghị quyết số 326, các quy định liên quan tới thẩm quyền, thủ tục xét miễn, giảm án phí cũng chỉ đề cập cụ thể tới đối tượng trong vụ án dân sự, hành chính.

“Điều 15: Thẩm quyền miễn, giảm tạm ứng án phí, án phí

… 2. Sau khi thụ lý vụ án, Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân công giải quyết vụ án có thẩm quyền xét đơn đề nghị miễn, giảm tạm ứng án phí của bị đơn có yêu cầu phản tố, của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập trong vụ án.

…4. Trước khi mở phiên tòa sơ thẩm hoặc phúc thẩm, Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân công giải quyết vụ án có thẩm quyền xét miễn, giảm án phí cho đương sự có yêu cầu.”

Trong các quy định về thẩm quyền, thủ tục xét miễn, giảm án phí này, không thấy đề cập tới “người bị kết án” là đối tượng phải chịu án phí hình sự. Điều đó hoàn toàn phù hợp với quan điểm chỉ đặt ra vấn đề miễn nộp tiền án phí đối với các đối tượng quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326 trong vụ án dân sự, hành chính. Còn trong vụ án hình sự, họ vẫn phải chịu án phí hình sự, nên không có quy định về thẩm quyền, thủ tục xét miễn, giảm án phí.

Thứ tư, xét trong thực tiễn cuộc sống, mức nộp án phí hình sự 200.000 đồng là khoản tiền không lớn nên người bị kết án nào cũng hoàn toàn có khả năng thực hiện được. Đồng thời, nghĩa vụ nộp án phí hình sự cũng thể hiện sự nghiêm khắc của pháp luật hình sự, là một trong những chế tài buộc người bị kết án phải chịu trách nhiệm thực hiện với Nhà nước vì hành vi phạm tội của mình. Do đó, việc đặt ra vấn đề miễn án phí hình sự với người bị kết án là hoàn toàn không cần thiết.

Vì các lý do nêu trên, cá nhân người viết tán thành quan điểm thứ hai, cần thống nhất thực hiện quy định tại Điều 23 Nghị quyết số 326 để xác định nghĩa vụ nộp án phí hình sự, không loại trừ những đối tượng được miễn nộp án phí theo quy định chung tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số này (Trẻ em; cá nhân thuộc hộ nghèo, cận nghèo; người cao tuổi; người khuyết tật; người có công với cách mạng; đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; thân nhân liệt sĩ được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận gia đình liệt sĩ).

Trên đây là quan điểm cá nhân của người viết về vấn đề này, rất mong nhận được phản hồi của các đồng nghiệp để cùng trao đổi, nâng cao thêm nhận thức.

Đồng Thị Lan Anh – Phòng 7 VKSND thành phố Hải Phòng.


Ứng dụng hỗ trợ nghiệp vụ
Tin tức
Thông tin cần biết
Thống kê truy cập
  • Đang online: 3
  • Hôm nay: 215
  • Trong tuần: 7 622
  • Tất cả: 1 198 186
Trang thông tin điện tử: VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG - Cơ quan chủ quản: VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO
Địa chỉ: Lô 18A, Lê Hồng Phong, Hải An, TP Hải Phòng - Điện thoại: 02253.838308 - Fax: 02253.839072 - Email: vp_haiphong@vks.gov.vn
Trưởng ban biên tập: Phó Viện trưởng Lưu Xuân Sang
Số giấy phép: 03/GP-STTTT do Sở Thông tin và Truyền thông TP Hải Phòng cấp ngày 17 tháng 10 năm 2017 (Giấy phép có giá trị 10 năm)
Bản quyền thuộc về VKSND TP Hải Phòng - Thiết kế bởi VNPT | Quản trị