Một số nội dung cần lưu ý Kiểm sát viên khi kiểm sát việc thiết lập hồ sơ vụ án hình sự thuộc nhóm tội xâm phạm tính mạng sức khỏe con người
Các vụ án thuộc nhóm tội xâm phạm tính mạng sức khỏe con người được đánh giá nằm trong nhóm các vụ án phức tạp, tương đối khó trong việc thu thập, đánh giá chứng cứ để đảm bảo cho giải quyết vụ án được chính xác. Do vậy, đòi hỏi các Kiểm sát viên (KSV) trong quá trình thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, cần phải thận trọng, tỉ mỉ trong việc nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ của vụ án, từ đó đề ra các yêu cầu điều tra có chất lượng, có tính định hướng chính xác, đảm bảo việc thiết lập hồ sơ vụ án đầy đủ chứng cứ, làm cơ sở vững chắc cho việc giải quyết toàn diện vụ án.

Có thể nói, hoạt động nghiên cứu hồ sơ các vụ án hình sự nói chung, các vụ án thuộc nhóm tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người nói riêng là một trong những hoạt động quan trọng hàng đầu của KSV khi tiếp cận hồ sơ vụ án. Mỗi loại án có những cấu thành cơ bản khác nhau với những đặc trưng riêng, đòi hỏi KSV cần phải có kỹ năng nghiên cứu hồ sơ phù hợp để có thể hệ thống các chứng cứ trong vụ án một cách nhanh nhất, chính xác nhất, kịp thời đề xuất đến lãnh đạo Viện hướng xử lý, giải quyết vụ án hiệu quả, tiết kiệm thời gian, công sức. Ở mỗi giai đoạn tố tụng của vụ án, đều sẽ có cách thức tiếp cận, nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ ban đầu khác nhau. Chỉ khi nào hoạt động nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ ở từng giai đoạn tố tụng được đảm bảo đầy đủ, kịp thời, thì khi đó KSV mới có thể thực hiện tốt công tác kiểm sát việc thiết lập hồ sơ vụ án của Cơ quan điều tra trong quá trình thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án hình sự.   

Sau đây, là một số nội dung cụ thể mà KSV cần lưu ý khi nghiên cứu hệ thống các tài liệu, chứng cứ được thu thập ở từng giai đoạn tố tụng và kiểm sát việc thiết lập hồ sơ vụ án hình sự thuộc nhóm tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người.

1. Về việc nghiên cứu hồ sơ

1.1. Tại giai đoạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm

BLTTHS năm 2015 đã sửa đổi căn bản, xác định giai đoạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm là giai đoạn tiền khởi tố được tuân thủ theo các quy định tố tụng cụ thể. Theo đó, trách nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng được quy định một cách rõ ràng hơn và nhiệm vụ của KSV cũng được quy định đầy đủ, cụ thể hơn. Ở giai đoạn này, KSV được quyền tiếp cận hồ sơ vụ việc từ ban đầu. Thông thường, trong hồ sơ đã bao gồm các tài liệu, như: Đơn trình báo của người tố cáo và các tài liệu xác minh sơ bộ của đơn vị tiếp nhận tin báo này; các tài liệu về hiện trường, tử thi; giấy chứng thương ban đầu; tài liệu có liên quan đến việc khám xét khẩn cấp; biên bản thu giữ tài liệu, đồ vật; các Quyết định trưng cầu giám định pháp y. Một số vụ việc còn có lời khai ban đầu của người bị tố cáo; người biết việc, liên quan; trưng cầu giám định sinh học; tài liệu, dữ liệu điện tử và một số tài liệu xác minh khác… trách nhiệm của KSV là phải nghiên cứu và hệ thống được các vấn đề cần giải quyết, đồng thời đề ra yêu cầu kiểm tra, xác minh nhằm làm rõ các yếu tố cấu thành tội phạm để làm căn cứ ra một trong các quyết định: Khởi tố vụ án hoặc Không khởi tố vụ án hình sự.

Khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ ở giai đoạn này, cần chú ý:

Thứ nhất, đối với nhóm tài liệu xác định hậu quả về tính mạng, sức khỏe con người, như: Biên bản khám nghiệm tử thi; Giấy chứng thương (các thương tích ban đầu khi người bị hại đến cơ sở y tế cấp cứu); Quyết định trưng cầu giám định pháp y, KSV cần nghiên cứu kỹ đặc điểm, chiều hướng, vị trí của các vết thương trên thân thể bị hại, mức độ nghiêm trọng của các thương tích này theo nhận định ban đầu của cơ quan chuyên môn, từ đó đối chiếu với các nội dung đã được đưa vào Quyết định trưng cầu giám định Pháp y xem đã đầy đủ chưa, có cần bổ sung gì hay không. Nội dung đặt ra đối với các tài liệu này là phải yêu cầu làm rõ các vết thương trên thân thể nạn nhân là do một loại hay nhiều loại hung khí khác nhau gây ra, cơ chế hình thành các vết thương này; vết thương nào quyết định sự chết của nạn nhân; vết thương nào được hình thành trước khi nạn nhân đã chết; vết thương nào là do được can thiệp y tế, cấp cứu nạn nhân; mức độ tổn hại sức khỏe hoặc khả năng lao động của nạn nhân….

Thứ hai, đối với nhóm tài liệu, chứng cứ vật chất, bao gồm: Biên bản khám nghiệm hiện trường, cần lưu ý các vị trí đã được ghi nhận, thu giữ các mẫu dấu vết sinh học, cơ học, đặc điểm, chiều hướng dấu vết; vị trí thu giữ các vật chứng, đồ vật nghi có liên quan, số lượng và tình trạng của các đồ vật này khi thu giữ. Các biên bản khám xét khẩn cấp; biên bản thu giữ, niêm phong các vật chứng, đồ vật nghi có liên quan phải đảm bảo thời gian thu, nguồn thu hợp pháp, từ đó kiểm sát chặt chẽ các nội dung có trong Quyết định trưng cầu giám định dấu vết sinh học có tại hiện trường và các đồ vật, vật chứng đã thu giữ.

Thực tiễn giải quyết đã có trường hợp có vi phạm nghiêm trọng trong việc tiếp nhận, xử lý nguồn tin ban đầu về tội phạm, kéo theo vi phạm trong công tác khám nghiệm hiện trường, ghi sai thời gian thu giữ vật chứng trong biên bản và không rõ ràng về nguồn thu, ví dụ như: vụ việc Công an cấp xã sau khi tiếp nhận nguồn tin có dấu hiệu của tội Cố ý gây thương tích xảy ra trong đêm. Các cán bộ được phân công xác minh thông tin đã đến hiện trường, lúc này nạn nhân đã được người dân đưa đi cấp cứu. Tuy nhiên, nhóm cán bộ này không tiến hành các biện pháp bảo vệ hiện trường và thông báo ngay cho Cơ quan điều tra để giải quyết theo thẩm quyền mà lại lấy điện thoại cá nhân chụp một vài kiểu ảnh, sau đó thu gom toàn bộ các dụng cụ, đồ vật (gậy gỗ, tuýp sắt) có tại hiện trường đem về trụ sở Công an xã, trong đó bao gồm cả những đồ vật có bám dính dấu vết nghi máu. Sáng hôm sau, khi nhận được thông tin về nạn nhân có dấu hiệu chuyển biến thương tích nặng mới thông báo cho Cơ quan điều tra tiến hành khám nghiệm hiện trường, đồng thời đem các đồ vật đã được thu giữ từ đêm hôm trước đặt tại hiện trường vụ án. Sau khi kết thúc việc lập Biên bản khám nghiệm hiện trường, Cơ quan điều tra tiếp tục lập biên bản riêng về việc thu giữ vật chứng…. Việc làm này đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc thu thập các tài liệu, chứng cứ ở giai đoạn tiếp theo của vụ án do phải dành nhiều thời gian, công sức để khắc phục các vi phạm này bằng việc thu thập các tài liệu, chứng cứ khác bổ trợ đảm bảo căn cứ giải quyết toàn diện vụ án. Thiếu sót, vi phạm trên cũng có một phần trách nhiệm của KSV trong công tác kiểm sát khám nghiệm hiện trường.  

 Thứ ba, đối với tài liệu dữ liệu điện tử xuất hiện trong các vụ việc có thu được các dữ liệu hình ảnh từ Camera an ninh xung quanh hiện trường, sau khi xem hình ảnh, KSV không được chủ quan, tự mình nhận định, đánh giá cơ chế hình thành thương tích của nạn nhân mà bỏ qua các nội dung cần yêu cầu trưng cầu giám định và đề ra yêu cầu thu thập chứng cứ, đảm bảo cho việc ra một trong hai quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự.

Thực tiễn có vụ việc KSV chỉ chủ yếu căn cứ vào dữ liệu hình ảnh của một vụ việc xô xát đánh nhau được trích xuất từ camera an ninh và bản Kết luận giám định pháp y về thương tích của nạn nhân mà không đề ra các yêu cầu điều tra, thu thập các chứng cứ khác để làm căn cứ giải quyết chính xác vụ việc, theo đó đã đề xuất lãnh đạo Viện đồng ý với kết quả giải quyết của Cơ quan điều tra, ra Quyết định không khởi tố vụ án hình sự, dẫn đến hậu quả người tố cáo đã khiếu nại nhiều lần đối với Quyết định không khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan điều tra. Ví dụ như: vụ việc nạn nhân tố cáo bị đối tượng dùng ống tuýp dài khoảng 01m (dạng tuýp sắt) đánh gẫy xương chày cẳng chân trái, tổn hại 19% sức khỏe. Theo lời khai của nạn nhân, khi đang ở tư thế nhoài úp người trên hàng ghế thứ hai của xe ô tô loại 16 chỗ đang dừng đỗ để lấy đồ, thì bị đối tượng dùng ống tuýp đánh vào chân. Quá trình xác minh tin báo, người bị tố cáo một mực khẳng định chỉ vung ống tuýp đánh dọa, không trúng vào vị trí nào trên thân thể nạn nhân mà trúng bậc thềm lên xuống của xe ô tô. Theo bệnh án của nạn nhân khi nhập viện, có ghi nhận vùng cẳng chân bên trái của nạn nhân có vết xây xước, bầm tím. Theo hình ảnh ghi nhận từ camera, thì không thể nhìn rõ được nhát đánh của đối tượng có trúng vào cẳng chân trái của nạn nhân hay không, nhưng lại thấy rõ hình ảnh nạn nhân sau đó nhẩy từ bậc thềm lên xuống của xe ô tô (cao 38cm) xuống nền đường, có dấu hiệu giống như bị trẹo chân và nằm gục tại chỗ. Tại bản Kết luận giám định pháp y, Cơ quan chuyên môn nhận định: Chấn thương của nạn nhân có đặc điểm do tác động tương hỗ trực tiếp với vật tày cứng một lực tương đối mạnh gây nên. Nếu nạn nhân tự ngã vẫn có thể gây gãy xương chày cẳng chân được. Nếu nạn nhân đã bị gãy phức tạp xương chày cẳng chân trái trước đó thì không thể đi lại được bình thường và gần như không thể tiếp tục lao vào đối thủ được. Về cơ chế trực tiếp làm gẫy xương chày có thể là do lực tác động trực tiếp vào vị trí gãy xương gây nên, thường gặp do tai nạn xe máy hoặc bị vật cứng tác động trực tiếp vào vùng xương chày gãy theo hướng chủ yếu từ trước ra sau gây nên. Về cơ chế gián tiếp có thể là do lực chấn thương xoắn, vặn, uốn cong làm gãy xương ở vị trí xa nơi lực tác động và thường xảy ra ở các môn thể thao như: trượt băng, trượt tuyết, thi đấu đối kháng. Đối với cơ chế hình thành vết sưng nề bầm tím cẳng chân trái của nạn nhân, có 02 cơ chế, gồm: Cơ chế do tác động ngoại lực từ ngoài vào (có thể tự ngã hoặc do bị vật tày tác động vào) và cũng có thể là do gãy xương chảy máu từ vị trí xương gãy gây ra. Với các tài liệu giám định và tài liệu dữ liệu điện tử nói trên, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát đã thống nhất đánh giá do nạn nhân tự ngã, gây ra hậu quả thương tích cho bản thân trong quá trình xô xát giữa các bên, theo đó thống nhất kết thúc việc giải quyết nguồn tin về tội phạm, ra Quyết định không khởi tố vụ án hình sự, trong khi còn có nhiều yêu cầu điều tra không được thực hiện, cụ thể là: Không thực hiện việc thu giữ camera hành trình của xe ô tô 16 chỗ (theo lời khai của người tố cáo thì, xe có lắp camera hành trình, có ghi được cả âm thanh); Không tiến hành thu giữ chiếc gậy kim loại mà đối tượng khai đã sử dụng để đánh nạn nhân (theo lời khai ban đầu, đối tượng đã chỉ ra nơi cất giấu và khai rõ ràng về nguồn gốc của đồ vật, trường hợp không thể thu giữ được chiếc gậy, cần phải yêu cầu đối tượng và chủ nhân của đồ vật đó vẽ mô tả đặc điểm); Không yêu cầu Cơ quan giám định trích xuất hình ảnh, mô tả tư thế, động tác của đối tượng khi dùng gậy kim loại tấn công nạn nhân khi ở trên xe ô tô, xác định đối tượng có khả năng đánh trúng vào người nạn nhân hay không, trên cơ sở đó đề nghị Cơ quan chuyên môn trả lời về tư thế, động tác của đối tượng dùng gậy kim loại (có đặc điểm như đã thu giữ hoặc vẽ mô tả) đánh nạn nhân đang trong tư thế nhoài úp người trên ghế ô tô có thể gây ra thương tích của nạn nhân hay không.... Đáng chú ý là, theo lời khai của bị hại tại thời điểm xảy ra vụ việc xô xát, trên xe ô tô của bị hại còn có khoảng 4 đến 5 hành khách đi xe, một trong số họ đang được xe ô tô chờ đón theo Hợp đồng. Đây là những người làm chứng trực tiếp, có thể cung cấp các thông tin có ý nghĩa cho việc giải quyết vụ việc, tuy nhiên Cơ quan điều tra chỉ tiến hành xác minh sơ sài, không làm rõ được danh tính của họ để triệu tập ghi lời khai. Thiếu sót trên cũng có một phần trách nhiệm của Viện kiểm sát trong quá trình thực hành quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm đối với vụ việc này. Hiện tại, Quyết định này đã bị hủy, vì lý do các yêu cầu điều tra của vụ việc xô xát trên chưa được thực hiện đầy đủ, chưa có đủ căn cứ ra Quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự.

Thứ tư, đối với nhóm tài liệu là chứng cứ lời khai, KSV cần chú ý ghi chép đầy đủ các mâu thuẫn giữa các lời khai của người tố cáo, người chứng kiến, người liên quan. Đây là những tài liệu quan trọng để xác định cơ bản nguyên nhân mâu thuẫn, diễn biến vụ việc, hậu quả do hành vi phạm tội gây ra, trên cơ sở đó đề ra các yêu cầu điều tra có tính định hướng đúng nhằm đánh giá chính xác bản chất của vụ việc, động cơ, mục đích, đồng thời xác định đối tượng thực hiện hành vi phạm tội để xử lý.

          1.2. Tại giai đoạn điều tra, truy tố

Đối với các vụ án đã rõ ràng về dấu hiệu của tội phạm và Cơ quan điều tra đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự trong thời hạn 3 ngày, kể từ khi tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, thì hoạt động của KSV trong việc nghiên cứu hồ sơ vụ án, đề ra yêu cầu điều tra tương tự như giai đoạn giải quyết tố giác tin báo về tội phạm. Tuy nhiên cần chú ý, ở giai đoạn giải quyết tố giác tội phạm, các nội dung được KSV đề ra trong yêu cầu kiểm tra, xác minh là nhằm mục đích đảm bảo có đủ tài liệu, chứng cứ để ra một trong hai quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự. Ở giai đoạn điều tra vụ án hình sự, KSV phải đề ra được các yêu cầu điều tra nhằm làm rõ hành vi phạm tội, người thực hiện tội phạm và giải quyết toàn diện vụ án. Quá trình thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, KSV phải bám sát tiến độ điều tra, nắm bắt diễn biến thu thập chứng cứ của ĐTV để kịp thời báo cáo lãnh đạo Viện những phát sinh trong quá trình giải quyết vụ án. Về quy định chuyển tài liệu điều tra, theo khoản 5 Điều 88 Bộ luật Tố tụng Hình sự, lưu ý KSV cần phải chủ động tiếp cận các tài liệu này trong thời gian sớm nhất, thay vì đợi ĐTV chuyển sang. Chỉ khi KSV kịp thời nghiên cứu đầy đủ các tài liệu, chứng cứ được thu thập trong quá trình điều tra, thì mới có thể đề ra được các yêu cầu điều tra sát, trúng, đúng với nội dung vụ án, được các ĐTV mong đợi và chấp nhận thực hiện.

Trong số các tội phạm thuộc nhóm các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người, thì các vụ án Cố ý gây thương tích xảy ra tương đối phổ biến và chiếm số lượng không nhỏ trong cơ cấu án thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp huyện. Tỉ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của bị hại là một trong các căn cứ quan trọng quyết định người thực hiện hành vi vi phạm pháp luật có tội hay không. Chiếm đa số là các vụ việc cố ý gây thương tích có tỷ lệ tổn thương cơ thể của nạn nhân không lớn, chủ yếu thuộc loại tội ít nghiêm trọng và khởi tố theo yêu cầu bị hại. Số vụ việc còn lại thuộc loại tội nghiêm trọng hoặc rất nghiêm trọng, tỉ lệ tổn thương cơ thể của nạn nhân tương đối nặng, cũng có một số vụ rất nặng. Thực tiễn giải quyết các vụ việc xô xát có hậu quả thương tích thuộc khoản 1 và khoản 2 của Điều 134 BLHS trong thời gian qua cho thấy có dấu hiệu chủ quan của Cơ quan điều tra cấp huyện ngay từ khi tiếp nhận nguồn tin về tội phạm cho đến khi ra Quyết định khởi tố vụ án. Với tâm lý đánh giá vụ việc xô xát nhỏ, hậu quả không lớn nên hầu như chỉ giải quyết theo hướng để các bên tự hòa giải, rút đơn mà không kịp thời thu thập tài liệu, chứng cứ, dẫn đến việc có nhiều vụ án các bên không thể thương lượng hòa giải được với nhau nên đã khiếu kiện kéo dài, phức tạp làm cho việc thu thập chứng cứ trong quá trình điều tra tiếp theo của vụ án đã gặp không ít khó khăn. Do đó, khi nghiên cứu hồ sơ các vụ án thuộc nhóm này, KSV cần chủ động phối hợp với Điều tra viên tham gia hỏi, ghi lời khai của người tố cáo và người bị tố cáo càng sớm càng tốt, đồng thời nắm bắt diễn biến tâm lý cũng như mối quan hệ của các bên; điều kiện, cơ hội để các bên có thể hòa giải…. để làm cơ sở đề ra các yêu cầu điều tra tiếp theo.   

Một nội dung khác cần chú ý khi nghiên cứu hồ sơ ở giai đoạn này, đó việc phát hiện sớm các tài liệu, chứng cứ có mâu thuẫn với nhau, theo đó KSV phải ghi chép đầy đủ các nội dung mâu thuẫn cụ thể để yêu cầu khắc phục. Cần chú ý, khắc phục mâu thuẫn giữa các tài liệu phải bằng hoạt động thu thập chứng cứ trong tố tụng hình sự, chứ không phải “làm lại” chứng cứ. Đối với các tài liệu được sử dụng làm căn cứ áp dụng tình tiết định khung hình phạt là một trong số những tài liệu tương đối quan trọng và cũng là cơ sở để xác định mức độ phức tạp của vụ án, những phát sinh về tố tụng, chứng cứ thường bắt nguồn từ những loại tài liệu này. Do vậy, để đảm bảo việc kết thúc điều tra vụ án có căn cứ, đúng pháp luật đòi hỏi KSV phải thận trọng trong việc kiểm tra, nghiên cứu, đề ra yêu cầu thu thập và đánh giá chứng cứ. Nếu KSV thực hiện tốt công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra trong quá trình điều tra vụ án, thì khi chuyển sang giai đoạn truy tố, hoạt động nghiên cứu, trích cứu hồ sơ của KSV sẽ tiết kiệm được rất nhiều thời gian, hầu như ở giai đoạn này KSV chỉ cần tổng kiểm tra toàn bộ hệ thống chứng cứ đã được thu thập để hoàn tất thủ tục báo cáo truy tố, xây dựng dự thảo Cáo trạng.

2. Hoạt động kiểm sát việc thiết lập hồ sơ vụ án

          Thiết lập hồ sơ vụ án trách nhiệm chính thuộc về ĐTV và Cơ quan điều tra, nên ĐTV có trách nhiệm thu thập các tài liệu, chứng cứ để làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án và làm rõ các vấn đề khác trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Ngành Kiểm sát đã có Chỉ thị số 06/CT-VKSTC ngày 06/12/2012 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc tăng cường trách nhiệm công tố, gắn công tố với hoạt động điều tra. Đến nay, tiếp tục có thêm Chỉ thị số 05/CT- VKSTC ngày 27/4/2020 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao về tăng cường trách nhiệm công tố trong giải quyết các vụ án hình sự, theo đó một trong các nhiệm vụ của KSV phải đề ra các yêu cầu điều tra có chất lượng, đảm bảo định hướng điều tra chính xác.

BLTTHS năm 2015 quy định: “Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định, được dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án” (Điều 86), “Những gì có thật nhưng không được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì không có giá trị pháp lý và không được dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án hình sự” (khoản 2 Điều 87). Do đó, hoạt động kiểm sát việc thu thập chứng cứ của KSV rất quan trọng để xác định tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có được coi là chứng cứ hay không, có được dùng để làm căn cứ kết tội hay không. Có thể nói trình tự thu thập tài liệu, chứng cứ có ý nghĩa quyết định trong việc xác định người thực hiện hành vi vi phạm pháp luật có bị coi là tội phạm hay không. Thực tiễn giải quyết án hình sự nói chung, án xâm phạm tính mạng sức khỏe con người nói riêng đã xuất hiện một số dạng vi phạm tố tụng trong hoạt động thu thập tài liêu, chứng cứ của Cơ quan điều tra, vi phạm này có một phần trách nhiệm của công tác kiểm sát điều tra của KSV, dẫn đến việc án bị hủy, sửa. Cụ thể các vi phạm đó là, trong cùng một thời điểm ĐTV tiến hành đồng thời các hoạt động tố tụng khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi ở các địa điểm khác nhau, có khung thời gian trùng nhau, khoảng cách địa lý xa nhau...; cùng một ĐTV đồng thời ký vào nhiều biên bản điều tra do các Cán bộ điều tra khác nhau tiến hành; Biên bản điều tra không ghi ngày giờ, có nội dung bị tẩy xóa bằng bút xóa nhưng không được các bên ký xác nhận; Khi ghi lời khai, hỏi cung đối với bị can không biết chữ ĐTV không mời người chứng kiến; Không ghi hoặc ghi sai ngày giờ lập biên bản; Cán bộ điều tra không có tên trong Quyết định phân công tiến hành ghi biên bản điều tra; Tiến hành thủ tục nhận dạng vật chứng sai quy định (như: mở niêm phong vật chứng để tiến hành cho nhận dạng trước khi ra Quyết định trưng cầu giám định dấu vết đường vân và dấu vết sinh học; chụp chung vật chứng và các đồ vật tương tự khác trong cùng một bản ảnh, không đánh số thứ tự….); Công an cấp xã tự tổ chức khám nghiệm hiện trường và thực hiện các thủ tục kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm trong thời hạn giải quyết tố giác, tin báo rồi mới chuyển hồ sơ nguồn tin trên đến Cơ quan điều tra cấp huyện….. Do vậy, quá trình thiết lập hồ sơ vụ án hình sự từ giai đoạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm đến khi vụ án được khởi tố điều tra, truy tố, đòi hỏi KSV phải tập trung chú ý kiểm sát chặt chẽ hoạt động thu thập chứng cứ của ĐTV ở mỗi giai đoạn tố tụng đảm bảo việc tuân thủ đúng quy định của BLTTHS.

Sau đây là một số nội dung KSV cần chú ý khi kiểm sát việc thiết lập hồ sơ vụ án hình sự.

Một là, đối với các vụ việc tố giác, tin báo có người bị thương tích, bắt buộc phải có kết quả giám định tỷ lệ % tổn thương cơ thể để làm căn cứ khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự, KSV cần chú ý đảm bảo kịp thời đề ra các nội dung cần phải đưa vào Trưng cầu giám định pháp y về thương tích một cách đầy đủ, đồng thời đôn đốc Cơ quan điều tra thực hiện, tránh việc các bên tìm cách trì hoãn, kéo dài việc giải quyết nhằm mục đích tự hòa giải, bồi thường dân sự, sau đó chống đối, không hợp tác đi giám định. Lưu ý, trường hợp bị hại từ chối giám định, KSV cần yêu cầu Cơ quan điều tra ra Quyết định dẫn giải và phải có kế hoạch kiểm sát việc dẫn giải đó. Thực tế đã có trường hợp Cơ quan điều tra thi hành Quyết định dẫn giải, đã đưa đối tượng đến Cơ quan giám định nhưng tại đây, đối tượng tiếp tục từ chối, không hợp tác. Gặp trường hợp này, cần yêu cầu ĐTV lập biên bản và ghi lại hình ảnh của đi tượng, theo đó xác định mức độ chống đối, không hợp tác để xử lý theo quy định.

Hai là, phần lớn các vụ án thuộc nhóm tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe thường là án truy xét, liên quan đến trình tự thủ tục giữ người trong trường hợp khẩn cấp hoặc bắt tạm giam. Do đó, quá trình khám nghiệm KSV cần chú ý yêu cầu ĐTV thu thập các tài liệu, dấu vết máu, dấu vết cơ học để lại hiện trường, hung khí và các đồ vật, tài sản khác phải được thu giữ, bảo quản đúng quy định. Đối với các dấu vết nghi máu phải được bảo quản, niêm phong và giám định kịp thời nhằm xác định đó là máu của ai trong quá trình xô xát giữa các bên. Thực tế đã có vụ việc KSV không yêu cầu ĐTV thu giữ dấu vết nghi máu xuất hiện tại hiện trường trong quá trình kiểm sát khám nghiệm hiện trường vụ án Cố ý gây thương tích, vì tự nhận định vết máu đó là của bị hại, không cần thu giữ.

Ba là, khi kiểm sát kết quả của việc trưng cầu giám định pháp y về thương tích, tử thi, KSV cần chú ý xem xét các nội dung có trong bản Kết luận giám định đã đầy đủ hay chưa, có thương tích nào của nạn nhân được Cơ quan chuyên môn đề nghị giám định bổ sung sau khi ổn định không. Trường hợp một trong các bên có yêu cầu giám định lại, giám định bổ sung thì KSV phải kiểm sát chặt chẽ căn cứ đề nghị giám định lại, tránh việc áp dụng tùy tiện, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên. Giám định bổ sung là giám định các vấn đề mà trước đó chưa được giám định hoặc đã được giám định nhưng chưa đầy đủ; việc giám định bổ sung được tiến hành bởi cơ quan giám định đã tiến hành giám định trước đó. Giám định lại là giám định trên cùng một nội dung mà trước đó đã được giám định nhưng có đề nghị của người có liên quan hoặc Cơ quan tố tụng thì tiến hành giám định lại ở Cơ quan giám định khác.

Quá trình kiểm sát việc thiết lập hồ sơ vụ án, khi có yêu cầu giám định lại, KSV phải yêu cầu ĐTV tiến hành xác minh làm rõ các yêu cầu này theo đúng quy định tại Điều 108 BLTTHS, theo đó làm rõ các lý do mà các bên yêu cầu giám định lại trước khi Cơ quan điều tra quyết định trưng cầu giám định lại. Đồng thời, KSV cũng cần kiểm sát các nội dung yêu cầu giám định lại có trong Quyết định trưng cầu xem đã đảm bảo chưa, nội dung có chính xác không, có bị trùng với nội dung đã trưng cầu giám định trước đó không. Bên cạnh đó, cần kiểm sát chặt chẽ các tài liệu, chứng cứ được gửi kèm để làm căn cứ giám định, cần yêu cầu ĐTV phải gửi toàn bộ các hồ sơ, tài liệu đã được sử dụng để giám định ban đầu. Ngay sau khi có kết quả giám định lại, KSV phải tiến hành đối chiếu với các kết quả giám định lần đầu để xem đã có đủ căn cứ giải quyết vụ án hay chưa. Trường hợp trong hồ sơ có 02 bản kết luận giám định của hai cơ quan giám định khác nhau, ở hai thời điểm giám định khác nhau, kết luận ban hành sau không phủ định, bác bỏ các kết quả của kết luận ban hành trước, thì về nguyên tắc cần căn cứ vào bản kết luận giám định sớm nhất để làm căn cứ xác định hậu quả của vụ án (trừ trường hợp bản kết luận giám định ban đầu có sai sót phải giám định lại). Đối với trường hợp giám định bổ sung, thì KSV cần tổng hợp các thương tích của các bản kết luận giám định để xác định hậu quả của vụ án và đây chính là khối lượng buộc tội đối với bị can, bị cáo.

Bốn là, KSV cần thực hiện tốt việc phối hợp với ĐTV trong việc sơ kết vụ án trước khi chuẩn bị kết thúc việc điều tra, phối hợp rà soát toàn bộ hệ thống chứng cứ của vụ án, các tình tiết định khung, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ áp dụng cho bị can; xem xét việc xử lý vật chứng; các tài liệu liên quan đến việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án đã đầy đủ chưa, có cần phải khắc phục bổ sung gì không, trên cơ sở đó quyết định việc kết thúc điều tra vụ án hoặc báo cáo đề xuất Lãnh đạo hai cơ quan xin ý kiến cho gia hạn thời hạn điều tra vụ án. Trường hợp thống nhất kết thúc điều tra vụ án, KSV và ĐTV cần thống nhất cách thức sắp xếp các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án theo diễn biến tố tụng và thứ tự thời gian, sắp xếp thành từng tập riêng, ghi chú loại tài liệu của từng tập, đảm bảo thuận tiện cho việc nghiên cứu hồ sơ vụ án ở các giai đoạn tố tụng tiếp theo.

3. Một vài lưu ý khi đánh giá chứng cứ trong các vụ án xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người

Thực tiễn áp dụng trong thời gian qua, nhận thấy có một số lỗi chung của KSV thường gặp trong đánh giá chứng cứ cần phải lưu ý khắc phục, cụ thể là: khi đánh giá về sự phù hợp với nhau của các hệ thống chứng cứ lời khai, có một số KSV cho rằng, lời khai phải “giống nhau” thì mới được coi là phù hợp. Với nhận định này, có thể KSV sẽ đưa ra các yêu cầu điều tra phiến diện, thiếu khách quan, vì lẽ: ở mỗi lời khai của những người tham gia tố tụng khác nhau trong cùng vụ án sẽ có những nội dung chính liên quan đến việc buộc tội hoặc gỡ tội cơ bản phù hợp nhau. Những người này vì các lý do khác nhau mà không thể có lời khai giống hệt nhau, do bị ảnh hưởng bởi vị trí, điều kiện mà họ quan sát được; mức độ ghi nhớ, nhận định về thông tin mà họ biết được. Ngoài ra, có thể họ bị ảnh hưởng khác về mối quan hệ giữa họ với nhau, về tính liên quan đến hành vi vi phạm (nếu có), làm cho họ né tránh, sợ liên lụy, vì có thể sẽ bị xem xét, xử lý theo quy định của Pháp luật….

Một nội dung khác có thể nói là tương đối phổi biến của KSV, đó là còn để tình trạng phụ thuộc chủ yếu vào lời khai nhận tội của bị can, bị cáo dẫn đến chủ quan, coi nhẹ việc đề ra yêu cầu điều tra, thu thập các chứng cứ khác. Tại điểm d, khoản 2 Điều 60 và điểm e, khoản 2, Điều 61 BLTTHS đã quy định cho bị can, bị cáo có quyền “trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội”. Như vậy, có thể hiểu với quy định này, bị can, bị cáo có quyền  được giữ im lặng trong qua trình điều tra, truy tố, xét xử. Nếu chỉ chú trọng đến lời khai nhận tội của bị can, bị cáo mà không có chứng cứ khác để làm căn cứ buộc tội, đến khi bị can, bị cáo vì lý do nào đó thay đổi lời khai, chối tội, thì KSV sẽ phải đối diện với việc hoàn trả hồ sơ giữa các Cơ quan tiến hành tố tụng để điều tra bổ sung. Với việc thu thập chứng cứ ở giai đoạn điều tra bổ sung thường sẽ gặp rất nhiều khó khăn, do nhiều tài liệu, chứng cứ đã mất đi tính “kịp thời” trong hoạt động điều tra, thu thập chứng cứ, thậm chí có một số tài liệu có thể đã bị tiêu hủy, bị mất tính liên quan không thể nào khắc phục được …. Vì vậy, KSV cần lưu ý:  Lời khai nhận tội của bị can, bị cáo chỉ được coi là chứng cứ khi nó phù hợp với các chứng cứ khác./.

Lương Thị Thúy Dung- Phó trưởng Phòng 2

                                                  Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng


Ứng dụng hỗ trợ nghiệp vụ
Tin tức
Thông tin cần biết
Thống kê truy cập
  • Đang online: 8
  • Hôm nay: 84
  • Trong tuần: 7 523
  • Tất cả: 1 293 989
Trang thông tin điện tử: VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG - Cơ quan chủ quản: VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO
Địa chỉ: Lô 18A, Lê Hồng Phong, Hải An, TP Hải Phòng - Điện thoại: 02253.838308 - Fax: 02253.839072 - Email: vp_haiphong@vks.gov.vn
Trưởng ban biên tập: Phó Viện trưởng Lưu Xuân Sang
Số giấy phép: 03/GP-STTTT do Sở Thông tin và Truyền thông TP Hải Phòng cấp ngày 17 tháng 10 năm 2017 (Giấy phép có giá trị 10 năm)
Bản quyền thuộc về VKSND TP Hải Phòng - Thiết kế bởi VNPT | Quản trị