Nâng cao chất lượng ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa, phiên họp giải quyết các vụ án hành chính, vụ việc kinh doanh thương mại, lao động
Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa, phiên họp giải quyết các vụ án hành chính, vụ việc kinh doanh thương mại, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật (viết tắt là các vụ án dân sự, hành chính) là kết quả của quá trình nghiên cứu hồ sơ, tham gia phiên tòa của Kiểm sát viên, thể hiện vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc dân sự, hành chính. Để nâng cao hơn nữa chất lượng ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa, phiên họp chúng ta phải quan tâm và thực hiện tốt ngay từ giai đoạn nghiên cứu hồ sơ. Qua thực tiễn công tác, chúng tôi tích hợp một số kinh nghiệm để nâng cao chất lượng phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa, phiên họp giải quyết các vụ án dân sự, hành chính như sau:

1. Nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu hồ sơ, chuẩn bị tài liệu trước khi tham gia phiên tòa, phiên họp

1.1. Nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu hồ sơ

Nghiên cứu hồ sơ vụ án dân sự, hành chính là hoạt động do Kiểm sát viên được phân công thực hiện trong thời hạn do Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính quy định để nắm chắc hồ sơ vụ án, kiểm sát việc Thẩm phán áp dụng thực hiện các thủ tục tố tụng, thu thập chứng cứ, tài liệu liên quan đến vụ án… Việc nghiên cứu hồ sơ có ý nghĩa quan trọng, quyết định chất lượng, hiệu quả tham gia phiên tòa của Kiểm sát viên. Công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa có đạt được mục đích bảo đảm Tòa án xét xử vụ án có căn cứ, đúng pháp luật hay không phụ thuộc vào việc Kiểm sát viên được giao nhiệm vụ kiểm sát việc giải quyết vụ án trực tiếp nghiên cứu hồ sơ có đạt chất lượng hiệu quả hay không.

Tùy vào đặc điểm riêng của mỗi loại án và yêu cầu của đương sự, Kiểm sát viên cần bám sát vào hồ sơ vụ án cụ thể phát biểu chính xác, toàn diện. Ví dụ: Đối với vụ án tranh chấp về hợp đồng tín dụng, những vi phạm thường gặp có thể kể đến như:

Thứ nhất, Toà án không thu thập tài liệu về lãi suất hoặc không đánh giá tài liệu về lãi suất mà chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện theo số liệu tính lãi ngân hàng cung cấp.

Có nhiều vụ án, nguyên đơn chỉ cung cấp duy nhất 1 bảng chung về lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm; không có tài liệu nào khác giải trình việc tính lãi của từng khế ước nhận nợ. Toà án cũng không yêu cầu ngân hàng cung cấp tài liệu cụ thể về bảng tính lãi suất trong hạn và quá hạn. Vì vậy, không có căn cứ để xác định số tiền nợ lãi (trong hạn và quá hạn) mà Tòa án sơ thẩm chấp nhận theo ngân hàng tính toán đã đúng quy định pháp luật hay chưa (số tiền nợ lãi đã được điều chỉnh theo thoả thuận chưa? mức lãi suất có đúng như thỏa thuận và đã phù hợp quy định về lãi suất thay đổi của chính ngân hàng chưa?…); Do đó, việc Tòa án chấp nhận số liệu do nguyên đơn cung cấp là chưa đảm bảo khách quan và có thiếu sót trong việc thu thập chứng cứ.

Thứ hai, Toà án đã yêu cầu ngân hàng cung cấp bảng tính lãi của các khế ước nhưng không đối chiếu với thỏa thuận điều chỉnh lãi và cách tính lãi điều chỉnh của ngân hàng nên có trường hợp bảng tính không đúng nhưng Tòa án vẫn chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện. Ví dụ, ngân hàng và công ty thỏa thuận lãi suất thời điểm giải ngân; lãi suất điều chỉnh 1 tháng/1 lần nhưng bảng tính nợ gốc và nợ lãi trong hạn, lãi quá hạn, tại phần lãi quá hạn, ngân hàng không áp dụng việc điều chỉnh lãi suất 1tháng/1 lần là thực hiện không đúng quy định của hợp đồng.

Ngoài ra, đối với việc thẩm định tại chỗ tài sản thế chấp, phát biểu của Kiểm sát viên phải chú ý đến việc Tòa án xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản thế chấp có đúng quy định theo Điều 101 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 không? Cụ thể là, việc xem xét, thẩm định tại chỗ của Tòa án có mô tả đúng, đầy đủ hiện trạng tài sản thế chấp không? có đo vẽ, xác định chính xác cụ thể vị trí tài sản (trường hợp cần thiết phải chụp ảnh để quan sát tài sản trên thực tế); đồng thời xác định người có quyền đối với tài sản thế chấp, hoặc ai đang quản lý, sử dụng tài sản thế chấp và tài sản thế chấp trên thực tế có khác gì so với tài sản thể hiện trên giấy tờ hay không để giải quyết vụ án một cách toàn diện, triệt để. Có trường hợp Toà án qua xem xét, thẩm định tại chỗ thấy diện tích thực tế chênh lệch so với diện tích ghi trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng không có sơ đồ đo vẽ kèm theo mà vẫn tuyên quyền phát mại theo diện tích đất thực tế. Điều này sẽ dẫn tới khó khăn trong quá trình thi hành án sau này.

Ngày 23/02/2021, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã ban hành Hướng dẫn số 20/HD-VKSTC về hoạt động phát biểu của Kiểm sát viên khi tham gia phiên tòa xét xử vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động trong đó tổng hợp một số loại án có tính điển hình, xảy ra phổ biến và thường có sai sót trên thực tế để hướng dẫn cách thức nghiên cứu hồ sơ. Vì vậy, Kiểm sát viên cần nghiên cứu, vận dụng để nâng cao chất lượng bài phát biểu. Qua quá trình nghiên cứu hồ sơ, nếu thấy tài liệu, chứng cứ chưa đầy đủ, chưa đủ cơ sở để giải quyết vụ án, Kiểm sát viên có quyền yêu cầu Tòa án bổ sung, thu thập chứng cứ. Nếu Tòa án không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ phải đưa những tồn tại này vào bài phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

1.2. Nâng cao chất lượng công tác chuẩn bị tài liệu trước khi tham gia phiên tòa, phiên họp

Khi xây dựng dự thảo bài phát biểu của Kiểm sát viên, hình thức, bố cục cần tuân thủ theo mẫu ban hành kèm theo Quyết định số 204/QĐ-VKSTC ngày 01/6/2017 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành Hệ thống biểu mẫu văn bản tố tụng- nghiệp vụ tạm thời trong lĩnh vực kiểm sát hoạt động tư pháp.

Về nội dung, theo hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 02/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC và Thông tư liên tịch số 03/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC ngày 30/8/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, nội dung bài phát biểu phải thể hiện được những ý sau:

a. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.

Kiểm sát viên phải nắm vững những diễn biến tố tụng mà thẩm phán, HĐXX đã thực hiện có phù hợp với quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính không. Cụ thể phải xác định rõ:

- Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

- Về thời hiệu khởi kiện: Trong vụ án giải quyết vụ việc dân sự, có hay không có yêu cầu của đương sự xem xét thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự (quy định tại Điều 183-185 Bộ luật Tố tụng dân sự); trong vụ án hành chính phải xác định rõ còn hay không còn thời hiệu khởi kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính quy định tại Điều 116 Luật Tố tụng hành chính.

- Việc thụ lý và ra văn bản thông báo về việc thụ lý vụ án có đúng quy định của pháp luật không?

- Về tư cách người tham gia tố tụng: Thẩm phán đã xác định đầy đủ, đúng theo quy định của pháp luật chưa? Cần lưu ý việc Tòa án đã xác định đủ người có quyền lợi liên quan đến vụ án chưa? Có hay không có việc thụ lý yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan? Tòa án đã yêu cầu đương sự nộp đơn phản tố, đơn yêu cầu độc lập, nộp tạm ứng án phí đối với những yêu cầu này theo quy định của pháp luật chưa?

- Việc giao nhận, xác minh, thu thập tài liệu chứng cứ như: tiến hành lấy lời khai của đương sự, yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ... ?

+ Về thời hạn chuẩn bị xét xử, quyết định đưa vụ án ra xét xử: Vụ án thụ lý từ khi  nào, đến thời điểm nào thì Tòa án ra Quyết định tạm đình chỉ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử có đúng với quy định không.

+ Về thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát cùng cấp nghiên cứu; việc cấp, tống đạt các văn bản tố tụng cho Viện kiểm sát và người tham gia tố tụng đúng hay không đúng thời hạn theo quy định của Luật Tố tụng hành chínhBộ luật Tố tụng dân sự.

- Về việc chấp hành pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án: Phần này nêu việc chấp hành pháp luật về chấp hành nguyên tắc xét xử, về thành phần Hội đồng xét xử, về giải quyết yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng hoặc việc giải quyết thay đổi, bổ sung, rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố của những người tham gia tố tụng phải được ghi trong nội dung bài phát biểu của Kiểm sát viên.

b. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án; các đương sự và những người tham gia tố tụng khác có thực hiện nghiêm túc, đầy đủ theo quy định của pháp luật không.

Phần này Kiểm sát viên cần phát biểu rõ việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn (người khởi kiện), bị đơn (người bị kiện), người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, trong việc cung cấp tài liệu chứng cứ, có mặt theo giấy triệu tập…

c. Quan điểm về việc giải quyết vụ án: chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập (trong đó phải nêu rõ căn cứ pháp luật được áp dụng để giải quyết vụ án); đề nghị Tòa án kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến việc giải quyết vụ án hành chính có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên (nếu có);

Phần nội dung phải trình bày được tóm tắt nội dung vụ án, trong đó nêu ngắn gọn nhưng đầy đủ những vấn đề như: Người khởi kiện hoặc nguyên đơn khởi kiện yêu cầu những vấn đề gì; tính chất và nội dung tranh chấp, nội dung khởi kiện như thế nào; ý kiến của người bị kiện, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; các tình tiết khác liên quan đến tranh chấp, yêu cầu khởi kiện. Người khởi kiện, bị đơn có yêu cầu phản tố hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập hay không; quá trình giải quyết, đương sự có thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập không; yêu cầu của các bên đương sự có tuân theo quy định của pháp luật không. Xác định căn cứ để giải quyết yêu cầu khởi kiện hoặc tranh chấp là các bên xuất trình được những tài liệu, chứng cứ gì chứng minh cho yêu cầu của mình hoặc bác bỏ yêu cầu của các bên; xác định tính có căn cứ và hợp pháp của các chứng cứ, tài liệu do các đương sự cung cấp, do Thẩm phán thu thập; đánh giá tính đầy đủ của chứng cứ... Việc xem xét, đánh giá chứng cứ không chỉ dựa trên các tài liệu đã thu thập trong hồ sơ vụ án mà còn căn cứ lời khai của các đương sự, ý kiến người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; trình bày của người tham gia tố tụng khác và kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Phân tích, nhận định chính xác, đầy đủ diễn biến phiên tòa để củng cố hoặc điều chỉnh kịp thời quan điểm giải quyết vụ án ngay tại phiên tòa. Chỉ khi nào làm rõ được những vấn đề cơ bản nêu trên; đánh giá một cách khách quan, toàn diện các chứng cứ, tài liệu có liên quan của vụ án; xem xét thỏa đáng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên thì mới bảo đảm đưa ra quan điểm giải quyết vụ án phù hợp. 

Đối với những yêu cầu kiến nghị để khắc phục vi phạm ở giai đoạn tố tụng: cần chú ý những trường hợp có vi phạm thủ tục tố tụng thì tổng hợp những vi phạm này. Nếu xét thấy là vi phạm nghiêm trọng ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của các đương sự thì sau khi xét xử, Kiểm sát viên phải báo cáo đề xuất kháng nghị phúc thẩm hoặc báo cáo đề xuất kháng nghị giám đốc thẩm. Trường hợp xác định có vi phạm nhưng không ảnh hưởng nhiều đến quyền lợi của các đương sự thì xem xét tổng hợp kiến nghị chung.

Thực hiện Khâu đột phá năm 2021về nâng cao chất lượng kháng nghị, kiến nghị, thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính, vụ việc kinh doanh thương mại, lao động và các việc khác theo quy định của pháp luật, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng đã chỉ đạo Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện phải trực tiếp nghe báo cáo và cho ý kiến chỉ đạo (trước và sau phiên tòa, phiên họp) đối với các vụ án hành chính, vụ việc kinh doanh thương mại, lao động, phá sản. Lãnh đạo các đơn vị thực hiện kiểm duyệt dự thảo “Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa/phiên họp”, có ý kiến hoặc yêu cầu Kiểm sát viên chỉnh sửa, bổ sung trước khi mở phiên tòa, phiên họp.

2. Trình bày phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa, phiên họp

Tại phiên tòa, dựa trên dự thảo bài phát biểu đã được Lãnh đạo đơn vị kiểm duyệt, Kiểm sát viên cần bổ sung, chỉnh sửa những nội dung, tình tiết mới phát sinh tại phiên toà đảm bảo bài phát biểu phù hợp với diễn biến phiên toà và những nội dung đã được làm rõ qua thủ tục hỏi và tranh luận.

Kiểm sát viên cần chú ý không được chủ quan, ỷ lại vào dự thảo đã chuẩn bị vì dự thảo được chuẩn bị trước phiên tòa nên những phần về sự có mặt/vắng mặt hoặc các vi phạm của người tham gia tố tụng chưa được cập nhật. Ngoài ra, tại phiên tòa có thể có một số tình huống phát sinh ngoài dự kiến như người khởi kiện rút đơn khởi kiện hoặc các đương sự đối thoại thành tại phiên tòa, do vậy Kiểm sát viên phải chỉnh sửa bải phát biểu cho phù hợp diễn biến phiên tòa. Khi phát biểu, cần tránh việc phát biểu nhanh, không có điểm nhấn, không thoát ly với tài liệu đã chuẩn bị sẵn, không kịp thời bổ sung kết quả phần hỏi và phần tranh luận tại phiên tòa, dẫn tới quan điểm của Viện kiểm sát do Kiểm sát viên trình bày chưa phản ánh quá trình diễn biến tại phiên tòa và chưa có tính thuyết phục.

Nâng cao chất lượng ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa, phiên họp giải quyết các vụ án hành chính, vụ việc kinh doanh thương mại, lao động là hoạt động giúp cho Kiểm sát viên thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ công tác kiểm sát hoạt động tư pháp, góp phần nâng cao vị thế của Viện kiểm sát nhân dân./.

Vũ Thị Mai Anh – Kiểm sát viên
Phòng 10 VKSND thành phố Hải Phòng


Ứng dụng hỗ trợ nghiệp vụ
Tin tức
Thông tin cần biết
Thống kê truy cập
  • Đang online: 14
  • Hôm nay: 1352
  • Trong tuần: 11 356
  • Tất cả: 1 241 786
Trang thông tin điện tử: VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG - Cơ quan chủ quản: VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO
Địa chỉ: Lô 18A, Lê Hồng Phong, Hải An, TP Hải Phòng - Điện thoại: 02253.838308 - Fax: 02253.839072 - Email: vp_haiphong@vks.gov.vn
Trưởng ban biên tập: Phó Viện trưởng Lưu Xuân Sang
Số giấy phép: 03/GP-STTTT do Sở Thông tin và Truyền thông TP Hải Phòng cấp ngày 17 tháng 10 năm 2017 (Giấy phép có giá trị 10 năm)
Bản quyền thuộc về VKSND TP Hải Phòng - Thiết kế bởi VNPT | Quản trị