Kinh nghiệm giải quyết án tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trên địa bàn thành phố Hải Phòng
Hải Phòng là một trong những thành phố lớn, có vị trí địa lý tương đối thuận lợi, hệ thống giao thông ngoài đường bộ, đường hàng không, còn có đường biển, đặc biệt các tuyến đường huyết mạch liên tỉnh vận chuyển hàng hóa từ các nước láng giềng qua biên giới phía Bắc vào nước ta, nên diễn biến tình hình tội phạm rất phức tạp. Hải Phòng cũng là một trong những đơn vị có số lượng án ma túy lớn so với các tỉnh, thành khác trong cả nước. Đặc điểm tội phạm ma túy trên địa bàn thành phố rất đa dạng phong phú, các đối tượng phạm tội sử dụng nhiều thủ đoạn phạm tội tinh vi, xảo quyệt, trá hình dưới nhiều cách thức. Khi bị phát hiện các đối tượng này rất manh động, sẵn sàng sử dụng vũ khí để chống trả lại các lực lượng chức năng. Ma túy được đối tượng phạm tội mua bán, vận chuyển, sản xuất với số lượng rất lớn, ngày càng nhiều chủng loại, không chỉ đơn thuần là các loại ma túy có nguồn gốc từ thuốc phiện (Heroine) thuộc nhóm Opiats nữa mà còn nhiều loại ma túy tổng hợp mới thuộc nhóm Amphetamine (ATS) như: Methamphetamine, Ketamine, MDMA, XLR-11, cần sa tổng hợp… với nhiều tên gọi, hình dáng khác nhau. Việc tiêu thụ ma túy dưới hình thức tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cũng len lỏi vào nhiều nhà hàng, khách sạn, quán bar, vũ trường, quán karaoke… ở khắp các ngõ ngách trên địa bàn thành phố.

Trong 05 năm (từ ngày 01/12/2015 đến ngày 30/11/2020), tổng số các vụ án hình sự, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng thụ lý giải quyết là 6.211 vụ/10.093 bị can. Trong đó, án ma túy là 2.317 vụ/2.976 bị can chiếm 37% tổng số án hình sự của thành phố, chủ yếu là các tội Mua bán trái phép chất ma túy, Tàng trữ trái phép chất ma túy, Vận chuyển trái phép chất ma túy, Sản xuất trái phép chất ma túy… Riêng tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy do còn có nhiều vướng mắc, có nhiều quan điểm khác nhau về đánh giá chứng cứ nên mặc dù số lượng các vụ việc bị phát hiện nhiều nhưng những vụ việc bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử lại hạn chế, chỉ có 89 vụ/241 bị can chiếm 3,8% tổng số án ma túy thành phố thụ lý giải quyết[1]. Xem xét nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, chúng tôi thấy có nhiều lý do khác nhau, đó là: Về căn cứ pháp luật, so sánh các quy định tại Điều 198 BLHS năm 1999 Bộ luật Hình sự (BLHS) và Điều 255 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 hầu như không thay đổi, chỉ chỉnh sửa về thể thức, kỹ thuật cho phù hợp với tinh thần chung[2]. Trong nhiều năm qua, hệ thống văn bản hướng dẫn dưới luật tội ma túy nói chung và tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nói riêng chưa được quan tâm đúng mực. Đến thời điểm hiện tại chỉ có Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XVIII “Các tội phạm về ma túy” (Thông tư liên tịch số 17/2007) và Thông tư liên tịch số 08/2015/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 14/11/2015 của Liên ngành Trung ương sửa đổi bổ sung Thông tư liên tịch số 17/2007 nêu trên (Thông tư liên tịch số 08/2015) đều hướng dẫn các quy định về tội phạm ma túy được quy định trong BLHS năm 1999. Từ khi BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018 đến nay đã hơn 03 năm nhưng Liên ngành Trung ương chưa có văn bản mới hướng dẫn các quy định về tội phạm ma túy. Trong năm 2020, Tòa án nhân dân tối cao ban hành Công văn 89 ngày 30/6/2020 Thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc trong xét xử, trong đó có một số nội dung hướng dẫn về nhóm tội ma túy, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (tại phần I - Hình sự - các mục 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7). Viện kiểm sát nhân dân tối cao cũng ban hành văn bản Giải đáp về những khó khăn vướng mắc - Kỷ yếu Hội nghị tập huấn trực tuyến công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự ngày 12/11/2020 trong đó có một số hướng dẫn về nhóm tội phạm ma túy (tại Phần I - Các tội phạm, mục 18, 19, 20). Các văn bản đơn ngành của Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ yếu giải đáp các vướng mắc trong quá trình xét xử án hình sự đối với trường hợp người “cung cấp chất ma túy cho người khác sử dụng” có là đồng phạm trong tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy hay không… còn các vấn đề khác liên quan đến việc xác định các yếu tố cấu thành tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy hầu hết vẫn áp dụng tinh thần các quy định tại Thông tư liên tịch số 17/2007. Đây là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến khó khăn trong việc xử lý các đối tượng có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

Bên cạnh đó, việc xác định người nghiện ma túy cũng gặp rất nhiều khó khăn do trong một thời gian dài rất ít các bác sỹ, y sĩ ở các cơ sở y tế có thẩm quyền xác định người nghiện ma túy được đào tạo, cấp chứng chỉ tập huấn về điều trị cắt cơn nghiện ma túy [3]. Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, ngày càng xuất hiện nhiều loại ma túy tổng hợp mới được chào bán trên thị trường. Việc xác định các dấu hiệu đặc trưng của người nghiện ma túy đối với những loại ma túy mới này cũng gặp rất nhiều khó khăn, mất nhiều thời gian. Bởi lẽ, chính các cơ sở y tế chuyên khoa điều trị cắt cơn nghiện cũng chưa được cập nhật thông tin về những dấu hiệu đặc trưng của từng loại ma túy mới, đặc biệt là ma túy tổng hợp. Họ cần có thời gian để nghiên cứu, theo dõi, phát hiện các biểu hiện lâm sàng của người bệnh trong quá trình điều trị nên có những giai đoạn khi Cục quản lý khám, chữa bệnh của Bộ Y tế chưa công bố các dấu hiệu đặc trưng của tình trạng nghiện loại ma túy cụ thể hoặc chưa đào tạo việc nhận biết các dấu hiệu đặc trưng tình trạng nghiện chất ma túy mới các cơ sở cai nghiện [4]… thì việc xác định tình trạng nghiện ma túy không thực hiện được.

Một trong những nguyên nhân khác là do kỹ năng điều tra, thu thập tài liệu, dấu vết, vật chứng của Điều tra viên (ĐTV) chưa thực hiện đúng các quy định của BLTTHS nên nhiều vụ việc Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy bị phát hiện có rất đông đối tượng nhưng không thể xử lý hình sự được. Việc khám xét, thu giữ vật chứng không kịp thời (các đối tượng đã sử dụng hết ma túy nhưng không thu giữ các dụng cụ sử dụng còn bám dính ma túy để giám định hoặc các đối tượng đã tẩu tán, dọn dẹp sạch sẽ hiện trường, không còn dấu hiệu việc tổ chức sử dụng ma túy). Việc xét nghiệm nhanh cho các đối tượng sử dụng ma túy chưa được chú trọng, không tiến hành test thử ngay sau khi bắt giữ các đối tượng mà tiến hành các hoạt động điều tra khác trước, nên sau thời gian nhất định cơ thể người sử dụng ma túy đã đào thải chất ma túy, kết quả xét nghiệm không chính xác, thiếu khách quan, nên việc xác định tình trạng nghiện ma túy không kịp thời. Trình tự thủ tục đưa người đi xác định tình trạng nghiện còn rườm rà, chồng chéo; có nhiều đối tượng là người chưa thành niên, phụ nữ có thai không được tiếp nhận vào cơ sở cai nghiện để xác định tình trạng nghiện do chưa có quy định, hướng dẫn về những đối tượng đặc biệt này. Do đó, hầu hết các vụ việc đều phải tạm dừng điều tra xác minh tin báo, chờ hướng dẫn của cấp trên nên cơ quan Công an không “nhiệt tình” truy bắt nhóm tội phạm này. Đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy đang diễn ra tương đối phổ biến trong thời gian vừa qua.

          Thông qua việc giải quyết các vụ án hình sự về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trên địa bàn thành phố Hải Phòng, chúng tôi tổng hợp một số kinh nghiệm giải quyết và những khó khăn, vướng mắc cụ thể như sau:

          1. Một số kinh nghiệm trong quá trình giải quyết án Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

          1.1 Kiểm sát viên cần chủ động nắm bắt, tiếp cận thông tin vụ việc và hồ sơ ban đầu ở giai đoạn tin báo, tố giác tội phạm

          Một trong những đặc trưng của nhóm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là có nhiều đối tượng cùng thực hiện hành vi phạm tội, các đối tượng này đều vừa sử dụng ma túy xong nên trạng thái tinh thần thường không ổn định, việc khai báo ban đầu chưa chính xác. Ngay sau khi đưa các đối tượng về trụ sở lập biên bản (tùy từng trường hợp có thể là biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang hoặc biên bản tiếp nhận nguồn tin tố giác tội phạm), Cơ quan điều tra chủ động thông báo cho Viện kiểm sát (VKS) cùng cấp để cử Kiểm sát viên (KSV) tiếp cận nội dung vụ việc ngay từ đầu. Giai đoạn này, cần chú ý một số hoạt động cụ thể như sau:

          - Một là, xác định tình trạng nghiện ma túy của các đối tượng bị bắt giữ. Đây là căn cứ quan trọng, quyết định hành vi của các đối tượng có cấu thành tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy hay không nên ngay sau khi hành vi phạm tội của các đối tượng bị phát hiện, cơ quan điều tra khẩn trương tiến hành xét nghiệm nhanh tình trạng sử dụng ma túy của các đối tượng và đưa họ đi xác định tình trạng nghiện tại các cơ sở cai nghiện. Thời gian xác định tình trạng nghiện ma túy khoảng từ 5-7 ngày tùy loại ma túy mà các đối tượng sử dụng nên khi nghiên cứu hồ sơ ban đầu KSV cần chú ý các “biên bản đầu vào” được cơ quan điều tra thiết lập để tránh sai sót, dẫn đến tình trạng tạm giữ hình sự sau trả tự do hoặc xử lý hành chính. Do khoảng thời gian xác định tình trạng nghiện tương đối dài nên đối với những vụ việc bị phát hiện có nhiều hành vi phạm tội, ngoài dấu hiệu tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy còn có dấu hiệu của tội phạm khác như Mua bán, Tàng trữ trái phép chất ma túy hoặc Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy thì Cơ quan điều tra tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang để sau 24 giờ sẽ tiến hành khởi tố vụ án, đưa các đối tượng liên quan vào tạm giữ hình sự về những hành vi khác trước, chờ có kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy sẽ khởi tố tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy sau. Đối với những vụ việc chỉ có một hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thì Cơ quan điều tra sẽ lập biên bản tiếp nhận nguồn tin tố giác tội phạm, để có thời gian chờ kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy và thu thập các tài liệu chứng cứ khác chứng minh các dấu hiệu đặc trưng cấu thành tội phạm làm căn cứ khởi tố hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự.

- Hai là, tiếp cận thông tin vụ việc nhanh chóng, tổng hợp tài liệu, chứng cứ để đánh giá, phân loại các đối tượng liên quan. Khi nhận được thông tin từ cơ quan điều tra, tùy từng tính chất phức tạp của vụ việc, lãnh đạo VKS cùng cấp có thể cử một hoặc nhiều KSV phối hợp cùng ĐTV hỏi, ghi lời khai làm rõ hành vi cụ thể của từng đối tượng. Giai đoạn này việc ghi lời khai thuộc trách nhiệm của ĐTV, cán bộ điều tra. KSV chỉ tham gia hỏi cùng ĐTV, cán bộ điều tra nhưng không trực tiếp ghi lời khai của các đối tượng (không có tên trong biên bản điều tra). KSV cần ghi chép tóm tắt hành vi của từng đối tượng vào sổ tay của mình để tổng hợp, đối chiếu và báo cáo lãnh đạo Viện khi đánh giá chứng cứ phân loại các đối tượng trước khi đưa vào tạm giữ hình sự.

          - Ba là, KSV cần kiểm tra tính khách quan, trung thực trong việc khai báo ban đầu của các đối tượng. Các đối tượng thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thường đông người, có thể quen biết nhau hoặc không biết nhau. Khi nghiên cứu hồ sơ ban đầu, KSV cần chú ý mối quan hệ của những người này để xác định tính khách quan trong việc cung cấp thông tin. Đặc biệt chú ý những nhân viên nữ phục vụ (tại vũ trường, quán bar, karaoke… hoặc được thuê đi sử dụng ma túy cùng), những đối tượng này thường sử dụng tên gọi khác với lý lịch (ví dụ: thay tên, tăng hoặc giảm tuổi, cung cấp sai địa chỉ cư trú…) hoặc khai báo có thai. Trường hợp đối tượng khai có thai thì cần đưa đến cơ sở y tế để khám chuyên khoa, xác định tình trạng sức khỏe của đối tượng trước khi đưa đi xác định tình trạng nghiện ma túy. Khi bị bắt giữ họ thường khai tên dùng ở quán, không đúng nhân thân, lai lịch, nơi cư trú di động nên trong trường hợp không thể đưa họ đi xác định tình trạng nghiện, phải tạm cho về hoặc giao cho gia đình quản lý chờ các cơ quan tố tụng giải quyết thì KSV phải kiểm tra lý lịch của các đối tượng này đã được chính quyền địa phương xác nhận hay chưa. Nếu đối tượng có địa chỉ ở xa, ĐTV đã tiến hành xác minh qua điện thoại tại nơi đối tượng đăng ký cư trú chưa để tránh tình trạng sau khi cho các đối tượng này về địa phương mới phát hiện đối tượng khai báo không trung thực, gây khó khăn cho hoạt động điều tra.

1.2 Phối hợp cùng cơ quan điều tra khẩn trương tiến hành xác định tình trạng nghiện ma túy của các đối tượng liên quan

Theo hướng dẫn tại điểm a mục 6.2 phần II Thông tư liên tịch số 17/2007 quy định: “Người nghiện ma túy có chất ma túy (không phân biệt nguồn gốc ma túy do đâu mà có) cho người nghiện ma túy khác chất ma túy để cùng sử dụng trái phép thì không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy…” nên việc xác định tình trạng nghiện là bắt buộc trong việc xử lý các đối tượng có biểu hiện tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Đây là một trong những vấn đề quan trọng quyết định hành vi của các đối tượng tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy có phải tội phạm hay không.

Ngay sau khi bắt, đưa các đối tượng có liên quan đến việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy về trụ sở để làm việc, cơ quan điều tra cần thu thập ngay mẫu nước tiểu của những người này để sơ bộ xác định họ có sử dụng trái phép chất ma túy không. Việc test thử nhanh nước tiểu có thể được tiến hành bằng nhiều cách có thể sử dụng dụng cụ y tế là thanh test ma túy hoặc đưa đến cơ sở y tế xét nghiệm hoặc mời giám định kỹ thuật hình sự thu mẫu xét nghiệm…

Trước khi tiến hành xác định tình trạng nghiện ma túy của các đối tượng, ĐTV phải xác minh tại chính quyền địa phương xem đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy có tên trong danh sách đối tượng nghiện do chính quyền địa phương quản lý hay không, gia đình và người thân có biết các đối tượng sử dụng ma túy hay không. Nếu các đối tượng này có tên trong danh sách người nghiện do địa phương quản lý thì không phải đưa họ đến cơ sở cai nghiện để xác định tình trạng nghiện ma túy nữa mà căn cứ vào những tài liệu này có thể khẳng định họ là người nghiện ma túy. Còn các đối tượng có kết quả xét nghiệm nước tiểu dương tính với ma túy nhưng không thuộc danh sách người nghiện ma túy ở địa phương quản lý thì ĐTV đưa họ đi xác định tình trạng nghiện tại các cơ sở cai nghiện. ĐTV phải cung cấp các tài liệu cho cơ sở cai nghiện để đánh giá sơ bộ tình trạng sử dụng ma túy của các đối tượng như: biên bản sự việc, lời khai của đối tượng về việc sử dụng ma túy, kết quả test dương tính với loại ma túy cụ thể. Sau đó, cơ sở cai nghiện sẽ tiến hành kiểm tra, chuẩn đoán, theo dõi các dấu hiệu đặc trưng của người sử dụng ma túy để đánh giá và đưa ra kết luận họ có nghiện ma túy hay không.

Quá trình điều tra ban đầu, KSV cần chú ý đối với những vụ việc cơ quan điều tra tiếp cận hồ sơ, đối tượng muộn (có thể do công an cấp xã hoặc cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra ban đầu phát hiện bắt giữ, thiết lập hồ sơ chuyển đến cơ quan điều tra cấp huyện muộn) thì việc test thử nước tiểu xác định tình trạng nghiện ma túy đôi khi không kịp thời và cho kết quả không chính xác. Các chất ma túy, rượu cồn đào thải thông qua một số bộ phận trên cơ thể người có thời gian khác nhau, cụ thể: Thời gian tồn tại của chất gây nghiện trong nước tiểu: amphetamine và ma túy ảo giác từ 1-3 ngày; cocain, heroine, thuốc lắc từ 3-4 ngày; ma túy đá từ 3-6 ngày; morphine từ 2-3 ngày; cần sa từ 7-30 ngày. Thời gian tồn tại của chất gây nghiện trong máu: amphetamine 12 giờ, ma túy ảo giác từ 2-3 giờ, morphine từ 6-8 giờ, ma túy đá từ 24-36 giờ; cocain và thuốc lắc từ 1-2 ngày; heroine khoảng 12 ngày; cần sa khoảng 14 ngày… Ngoài nước tiểu và máu là những mẫu bệnh phẩm thường được các cơ sở y tế thu để xét nghiệm chất ma túy thì ma túy còn tồn tại trong cơ thể người ở một số cơ quan khác [5]. Do đó, KSV cần yêu cầu ĐTV xác định việc các đối tượng có sử dụng ma túy hay không thông qua một số cách xét nghiệm các mẫu bệnh phẩm khác như máu, lông tóc…

 Để tránh tình trạng nhầm lẫn kết quả xét nghiệm của các đối tượng với nhau hoặc đối tượng chối cãi không sử dụng ma túy hoặc thành phần nước tiểu của họ không có ma túy thì KSV và ĐTV cần tiến hành việc lập biên bản thu mẫu giám định, tách các đối tượng cần giám định ra khu vực tương đối độc lập với nhau, chụp ảnh lại kết quả giám định với đối tượng cần giám định để đưa vào hồ sơ vụ án và lập biên bản cụ thể về nội dung, kết quả giám định việc sử dụng ma túy cho đối tượng ký đầy đủ, có người làm chứng hoặc đại diện cơ sở y tế.

Đối với các đối tượng sử dụng ma túy là người chưa thành niên, kết quả test nhanh dương tính với ma túy nhưng không thể đưa họ đi xác định tình trạng nghiện ma túy được vì hiện tại các cơ sở cai nghiện không tiếp nhận xác định tình trạng nghiện ma túy đối với các trường hợp là người chưa thành niên. Do đó, các đối tượng này thông thường cơ quan điều tra tiến hành thu thập các lời khai ban đầu, xác định test thử có sử dụng ma túy không, rồi bàn giao các đối tượng này cho gia đình quản lý, chờ xử lý sau. Vấn đề này đã được khắc phục khi Luật Phòng, chống ma túy sửa đổi bổ sung năm 2021 được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 11 ngày 30/3/2021, chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2022. [6]

1.3 Củng cố tài liệu chứng cứ để xác định các dấu hiệu cấu thành tội phạm Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  Trong khoảng thời gian chờ kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy của các đối tượng liên quan thì ĐVT và KSV cần phải phối hợp tích cực điều tra, thu thập tài liệu chứng cứ để xác định vai trò, các dấu hiệu đặc trưng cấu thành tội phạm của các đối tượng. Hoặc trong những trường hợp có các đối tượng thuộc diện có thể áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ hình sự ngay sau khi hành vi phạm tội bị phát hiện thì trong khoảng thời gian tối đa 09 ngày (thời hạn tạm giữ và gia hạn thời hạn tạm giữ), ĐVT phải thu thập đầy đủ các chứng cứ để có thể khởi tố bị can hoặc trả tự do cho người bị tạm giữ. Quá trình điều tra chứng minh, ĐTV cần chú ý các yếu tố:

Một là, hành vi “Chỉ huy, phân công, điều hành” việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy:

Theo Thông tư liên tịch số 17/2007 quy định hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy được hiểu là hành vi “Chỉ huy, phân công, điều hành” các hoạt động đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể người khác như: chuẩn bị, cung cấp chất ma túy, địa điểm, phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy, tìm người sử dụng chất ma túy… Do đó, dấu hiệu chỉ huy, phân công, điều hành là hành vi khách quan bắt buộc phải có trong cấu thành tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Thực tiễn giải quyết án thuộc tội danh này cho thấy việc chứng minh yếu tố này gặp nhiều khó khăn, đa số các vụ án đều được phát hiện, bắt quả tang khi các đối tượng tập trung đông người sử dụng chất ma túy (đang sử dụng hoặc vừa sử dụng ma túy xong). Biểu hiện khách quan ban đầu thường là hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, các đối tượng đều sử dụng ma túy, tinh thần chưa minh mẫn (đang ảo giác) nên việc khai báo ban đầu thường chưa chính xác. Đòi hỏi ĐTV phải có chiến thuật hỏi, ghi lời khai và thu thập khẩn trương tài liệu, vật chứng liên quan ngay sau khi phát hiện hành vi phạm tội. Sau một thời gian nhất định, tinh thần các đối tượng dần tỉnh táo hơn thì ĐTV tiến hành ghi lời khai cùng KSV đánh giá chứng cứ, phân loại hành vi của các đối tượng để tìm ra người chủ mưu trong việc tổ chức sử dụng ma túy. Trong đó, ĐTV phải làm rõ ai là người khởi xướng, có việc rủ nhau góp tiền, bàn bạc mua ma túy, tìm địa điểm, rủ thêm người sử dụng ma túy hay không. Diễn biến hành vi của các đối tượng khi sử dụng ma túy. Qua đó, ĐTV và KSV sẽ sàng lọc được vai trò của các đối tượng trong vụ án: ai là người chủ mưu, ai là người thực hành, ai là người giúp sức và ai là người thụ hưởng (người được sử dụng ma túy mà không phải đóng góp hay thực hiện bất kì hành vi gì)…

Việc chứng minh yếu tố “Chỉ huy, phân công, điều hành” thường dễ hiểu lầm sang dấu hiệu khách quan của các yếu tố “Phạm tội có tổ chức”, “Tổ chức phạm tội”. Các khái niệm này đều có những đặc điểm chung là yếu tố đồng phạm (có nhiều người thực hiện hành vi phạm tội, có câu kết chặt chẽ, có đủ vai trò thực hiện tội phạm: người chủ mưu, cầm đầu; người thực hành, người giúp sức…) nên đã dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau trong việc đánh giá chứng cứ giữa những người tiến hành tố tụng và giữa các cơ quan tiến hành tụng. Trong thời gian vừa qua có nhiều vụ việc gặp khó khăn, phức tạp phải họp liên ngành nhiều cấp để giải quyết vấn đề này. Do vậy, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã tập hợp những vướng mắc này, giải đáp, hướng dẫn trực tiếp tại các buổi Hội nghị, Hội thảo toàn ngành. Theo đó, hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy được hiểu là những hành vi chuẩn bị các điều kiện cần thiết để sử dụng trái phép chất ma túy như bố trí, sắp xếp con người, phương tiện, dụng cụ hoặc cung cấp chất ma túy để người khác sử dụng” [7]. Hành vi này khác và không đồng nhất với tình tiết “phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm. Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm”. Yếu tố đồng phạm trong tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy đơn giản hơn, không bắt buộc phải có sự phân công, chỉ đạo, điều hành chặt chẽ các đồng phạm trong tình tiết “phạm tội có tổ chức”. Việc chỉ huy, phân công điều hành chỉ là việc bố trí, sắp xếp, điều hành con người, phương tiện, cung cấp chất ma túy, điểm, phương tiện, dụng cụ… để thực hiện việc sử dụng trái phép chất ma túy.[8]

Hai là, hành vi đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể “người khác”:

Theo quy định của nhà nước ta thì chất ma túy có thể được dùng trong các trường hợp nghiên cứu, phân tích khoa học, kiểm nghiệm hoặc để chữa bệnh… Ngoài những mục đích trên, thì việc đưa chất ma túy vào cơ thể con người bằng mọi hình thức đều bị coi là trái phép. Như trên đã phân tích, yếu tố đồng phạm trong tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy đơn giản, đa số các đối tượng đều là người thực hành nhưng cũng có những người không được bàn bạc, thỏa thuận trước nhưng lại được sử dụng ma túy mà không phải đóng góp bất kì thứ gì. Từ đó, xuất hiện các khái niệm trong tội này là người thực hiện hành vi phạm tội, người giúp sức và “người thụ hưởng”.

Thực tiễn ở địa phương cho thấy có nhiều quan điểm đánh giá chứng cứ khác nhau để xác định các yếu tố “người khác” hoặc “người thụ hưởng” trong tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Theo cách hiểu thông thường thì cụm từ “người khác” được hiểu là “cá thể” độc lập với nhau. Có những giai đoạn, những thời điểm khác nhau các cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng trên địa bàn thành phố cũng có nhiều quan điểm đánh giá khác nhau về vấn đề này.

Giai đoạn từ sau khi Thông tư liên tịch số 17/2007 được ban hành đến năm 2016, yếu tố “người khác” được hiểu là cá nhân này với cá nhân khác nên có nhiều vụ án chỉ cần các đối tượng cùng thực hiện hành vi bố trí, sắp xếp con người, phương tiện, dụng cụ hoặc cung cấp chất ma túy để người khác sử dụng hoặc cùng nhau sử dụng ma túy (hành vi tổ chức cho nhau sử dụng ma túy) vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Giai đoạn từ năm 2016 đến nay, có hai quan điểm khác nhau về vấn đề này. Quan điểm thứ nhất cho rằng yếu tố “người khác” vẫn hiểu như cách hiểu thông thường và thực tiễn xét xử trước năm 2015 đã khẳng định. Quan điểm thứ hai cho rằng yếu tố “người khác” phải là người khác so với nhóm người thực hiện hành vi phạm tội (khác với chủ thể của hành vi phạm tội) [9] tức là “người thụ hưởng”. Thực tiễn xét xử từ năm 2016 đến nay đã chứng minh, các đối tượng thực hiện hành vi tổ chức cho nhau sử dụng trái phép chất ma túy (mỗi người góp một phần hoặc thực hiện một trong chuỗi các hành vi đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể người khác) thì không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và coi đây là trường hợp sử dụng trái phép chất ma túy (hành vi này đã được bãi bỏ khi Thông tư liên tịch số 08/2015 ngày 14/11/2015 của Bộ Công an, Viện kiểm sát tối cao, Tòa án tối cao, Bộ Tư pháp sửa đổi bổ sung Thông tư liên tịch số 17/2007). Và theo đó, chỉ những vụ án nào các cơ quan tiến hành tố tụng xác định được “người thụ hưởng” thì mới có thể truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các đối tượng khác. Chúng tôi, đồng ý với quan điểm này.

Ba là, các yếu tố loại trừ trách nhiệm hình sự khi đánh giá, phân loại vai trò các đối tượng phạm tội:

Với đặc trưng của sử dụng trái phép chất ma túy, đặc biệt là ma túy tổng hợp phải có nhiều người sử dụng cùng nhau. Thông qua các vụ việc được phát hiện trên địa bàn thành phố trong thời gian vừa qua, chủ yếu là các nhóm đối tượng tập trung tại các quán Karaoke, nhà nghỉ, khách sạn, vũ trường, quán bar… để sử dụng ma túy. Những đối tượng bị bắt giữ thông thường gồm ba nhóm: nhóm thứ nhất là khách đến quán sử dụng ma túy (vai trò là người chỉ huy, phân công, điều hành); nhóm thứ hai là những nhân viên nữ phục vụ có thể của nhà hàng, hoặc do khách gọi ở nơi khác đến (vai trò giúp sức); nhóm thứ ba là người quản lý nhà hàng, khách sạn, chủ sở hữu địa điểm các đối tượng sử dụng ma túy (vai trò là người liên quan). Việc phân loại các đối tượng, xác định vai trò chủ mưu, chỉ huy, phân công điều hành, người thực hành, người giúp sức, người thụ hưởng trong tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xử lý người phạm tội, tránh oan, bỏ lọt tội phạm.

Bên cạnh các yếu tố đặc trưng cấu thành tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thì yếu tố nhân thân của người phạm tội cũng là một trong những yếu tố cần phải làm rõ để làm căn cứ xác định việc người đó có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không. Bởi lẽ, theo hướng dẫn của Thông tư liên tịch số 17/2007 thì nhóm đối tượng là những người nghiện ma túy tổ chức cho nhau sử dụng trái phép chất ma túy thì không phải chịu trách nhiệm hình sự [10]. Đây là trường hợp được loại trừ trách nhiệm hình sự đối với những người phạm tội.

Tuy nhiên, cần chú ý trường hợp đối tượng nghiện có địa điểm cho người nghiện khác sử dụng ma túy từ sau thời điểm Thông tư liên tịch số 08/2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 30/12/2015 thì hành vi của người nghiện ma túy cho người nghiện ma túy sử dụng ma túy tại nơi ở của mình, không thuộc trường hợp được loại trừ trách nhiệm hình sự (theo điểm b mục 7.3 Phần II các tội phạm cụ thể Thông tư liên tịch số 17/2007) mà có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy.[11]

Thực tiễn áp dụng pháp luật xử lý tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy ở địa phương trong những năm qua cho thấy: bên cạnh trường hợp được loại trừ trách nhiệm hình sự trên thì trường hợp “tổ chức cho nhau sử dụng trái phép chất ma túy” (trường hợp không có người thụ hưởng) thì cũng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Hoặc trường hợp các đối tượng là những người giúp sức có vai trò thứ yếu trong việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cũng được xem xét không truy cứu trách nhiệm hình sự. Do đó, quá trình điều tra, ĐTV cần chú ý làm rõ hành vi khách quan, nhân thân của từng nhóm đối tượng trong tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy để cá thể hóa trách nhiệm hình sự, trách nhiệm hành chính của các đối tượng liên quan.

          Hành vi đặc trưng của nhóm khách - chủ thể tội phạm chủ yếu gồm các hành vi bàn bạc, rủ rê việc sử dụng trái phép chất ma túy; phân công việc chuẩn bị ma túy (có sẵn hoặc đi mua); tìm địa điểm sử dụng ma túy bằng cách thuê phòng nghỉ, phòng hát, đặt bàn trong quán bar...; tìm người sử dụng ma túy cùng bằng cách gọi thêm người khác là bạn bè, người thân hoặc thuê các nhân viên phục vụ nhà hàng qua các mối trung gian. Những đối tượng thuộc nhóm này hầu hết đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Chỉ những đối tượng được rủ đi cùng là bạn bè, người thân được sử dụng ma túy mà không phải đóng góp gì - không đồng phạm thì sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự mà tùy từng trường hợp được xác định là người tham gia tố tụng với tư cách là người làm chứng hoặc người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

          Hành vi đặc trưng của nhóm nhân viên nữ phục vụ, đây là nhóm hành vi của các đối tượng gây nhiều quan điểm tranh cãi trong quá trình áp dụng pháp luật tại địa phương. Đối với nhóm đối tượng này, khi được khách đặt vấn đề thuê đi phục vụ (đi hát cùng, đi sử dụng ma túy cùng) để được trả công theo giờ hoặc khi được chủ quán điều động, phân công phục vụ khách đến hát, chứng kiến khách tự lấy hoặc sai đi lấy các dụng cụ như đĩa sứ, bật lửa, thẻ nhựa cứng… là những đồ dùng dụng cụ để sử dụng ma túy thì về mặt ý thức chủ quan, các đối tượng này đều biết việc sử dụng ma túy. Quá trình sử dụng ma túy các đối tượng này có hành vi giúp sức bằng cách lau đĩa, hơ lửa nóng cho khô đĩa, đảo, xào, kẻ ma túy hoặc soi đèn pin cho các đối tượng khác đảo, xào, kẻ ma túy, bê đĩa ma túy đi mời người khác sử dụng… Về hành vi khách quan các đối tượng này đều có hành vi giúp sức cho việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; Về nhân thân, các đối tượng này đều có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nên về nguyên tắc nhóm đối tượng này phải bị xử lý hình sự. Tuy nhiên, quá trình giải quyết các vụ án Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy ở địa phương còn có nhiều quan điểm trái chiều về đường lối xử lý các đối tượng này. Quan điểm thứ nhất cho rằng hành vi của những đối tượng này là đồng phạm với hành vi của nhóm đối tượng khách với vai trò giúp sức, thậm chí hành vi “bê đĩa ma túy đi mời người khác trong phòng sử dụng” của các nhân viên phục vụ được coi là hành vi cung cấp chất ma túy nên phải xử lý hình sự các đối tượng này. Hiện nay Công văn 89 của Tòa án nhân dân tối cao có hướng dẫn hành vi cung cấp chất ma túy nhưng trường hợp này có được coi là cung cấp chất ma túy hay không thì chưa rõ. Quan điểm thứ hai cho rằng, các đối tượng nhóm này không được bàn bạc từ đầu, việc thực hiện hành vi giúp sức chỉ là được thuê làm để hưởng công; tính chất, vai trò và mức độ thực hiện hành vi phạm tội của nhóm đối tượng này không đáng kể nên không nhất thiết phải xử lý hình sự có thể áp dụng khoản 2 Điều 8 Bộ luật Hình sự “Những hành vi tuy có dấu hiệu tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng biện pháp khác”[12] và hướng dẫn của Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc xác định “người giúp sức có vai trò không đáng kể theo khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự có thể được hiểu là người có hành rất đơn giản, tính chất nguy hiểm cho xã hội thấp, mức độ tham gia hạn chế nhất so với các đồng phạm, thông thường không trực tiếp gây ra hậu quả thiệt hại vật chất của tội phạm”[13]. Do đó, trong thời gian vừa qua nhiều đối tượng là nhân viên nữ phục vụ có vai trò không đáng kể trong việc giúp sức cho các đối tượng khác tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy đều bị xử lý hành chính, không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Để thận trọng trong việc áp dụng pháp luật và tránh vi phạm các chỉ tiêu nghiệp vụ cứng của ngành, chúng tôi tiến hành xây dựng quy chế phối hợp về giải quyết các vụ án hình sự với liên ngành các cơ quan tố tụng địa phương. Theo đó, những trường hợp này các cơ quan tố tụng đều tổ chức họp, đánh giá chứng cứ trước khi phân loại xử lý.

          Đối với hành vi cung cấp địa điểm của chủ quán, người quản lý nhà hàng, khách sạn cho các đối tượng khác sử dụng ma túy: việc chứng minh ý thức chủ quan của những đối tượng này để xác định có đồng phạm với nhóm khách tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là rất khó khăn. Các đối tượng đều thấy dấu hiệu tập trung đông người (thuê 1-2 phòng nghỉ lớn cho nhiều người ở, mở nhạc to), hỏi mượn đĩa, thẻ nhựa… (dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy). Thực tế cho thấy, những đồ dùng dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy không có đặc trưng riêng biệt, các đối tượng sử dụng những đồ dùng vật dụng thông thường nên việc chứng minh ý thức chủ quan của các đối tượng trong những trường hợp “buộc phải biết” các đối tượng khác sử dụng trái phép chất ma túy là rất khó và tại địa phương hầu hết không thể xử lý hình sự được những đối tượng này.

1.4 Phối hợp với các cơ quan hữu quan trong việc đánh giá chứng cứ

          Để xử lý triệt để các nhóm đối tượng tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trên địa bàn thành phố trong thời gian vừa qua, công tác phối kết hợp giữa các cơ quan tố tụng địa phương với các cơ quan ban ngành hữu quan khác rất quan trọng. Đặc biệt là việc phối hợp để nhanh chóng cung cấp, thông tin, tài liệu, chứng cứ để có thể phân loại xử lý các đối tượng.

          - Với lực lượng Công an cấp xã: thường xuyên nắm bắt danh sách các đối tượng nghiện ở địa phương đang được giáo dục tại UBND cấp xã, các đối tượng được lập hồ sơ để đưa đi cai nghiện bắt buộc. Ngay sau khi phát hiện được hành vi vi phạm của các đối tượng, ĐTV cần khẩn trương thu thập tài liệu làm rõ nhân thân từng người, để thuận tiện cho việc phân loại các đối tượng đưa đi xác định tình trạng nghiện ma túy.

          - Với lực lượng cơ quan Y tế ở địa phương: Trạm trưởng Trạm y tế ở địa phương là người có thẩm quyền xác định tình trạng nghiện ma túy. Do đó, việc phối hợp với các cơ sở y tế xét nghiệm nhanh kết quả sử dụng ma túy, loại ma túy các đối tượng sử dụng gay sau khi phát hiện được hành vi phạm tội của các đối tượng có ý nghĩa quyết định, ảnh hưởng đến việc xem xét xử lý các đối tượng.

          - Với Cơ sở cai nghiện: Có thể nói việc xử lý các đối tượng phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy phụ thuộc vào kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy của họ. Việc phối hợp với cơ sở cai nghiện để kịp thời đưa các đối tượng đi xác định tình trạng nghiện, đơn giản thủ tục hành chính, hồ sơ tài liệu kèm theo là một trong những điều kiện quan trọng hỗ trợ cho các cơ quan tố tụng điều tra làm rõ hành vi phạm tội của các đối tượng. Đồng thời việc gặp hỏi, ghi lời khai của những đối tượng này trong thời gian xác định tình trạng nghiện tại các cơ sở cai nghiện cũng cần có sự phối hợp để đảm bảo an toàn cho cán bộ và đối tượng liên quan.

- Với liên ngành tư pháp địa phương và cấp trên: Trên cơ sở các đơn vị xây dựng quy chế phối hợp giải quyết án hình sự thống nhất giữa hai cấp các ngành trên địa bàn thành phố thống nhất thực hiện việc đánh giá chứng cứ, phân loại đối tượng xử lý ở các giai đoạn tố tụng. Đặc biệt để tránh oan sai, bỏ lọt tội phạm liên ngành tư pháp địa phương đều tiến hành đánh giá chứng cứ trước khi khởi tố vụ án, khởi tố bị can. Riêng ngành Kiểm sát Hải Phòng, Lãnh đạo thống nhất chỉ đạo trong toàn ngành, tất cả các đơn vị cấp huyện phải kịp thời báo cáo cấp trên trước khi khởi tố những vụ việc phức tạp ảnh hưởng đến tình hình chính trị địa phương và tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Do đó, việc xử lý các vụ án Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trên địa bàn thành phố không có án trả hồ sơ hoặc đình chỉ do không phạm tội hoặc Tòa án tuyên xử khác tội danh Viện kiểm sát truy tố.

- Với các cơ quan chính quyền và các Ban chỉ đạo phòng chống tội phạm ở địa phương: các cơ quan tố tụng thường xuyên báo cáo kết quả xử lý các đối tượng nghiện và tình hình tội phạm ma túy trên địa bàn. Tăng cường kinh phí, cơ sở vật chất, cung cấp các dụng cụ thử nhanh ma túy để các cơ quan chức năng trên địa bàn thành phố có đủ điều kiện thực hiện nhiệm vụ trong quá trình xử lý các đối tượng phạm tội ma túy.

          2. Một số khó khăn, vướng mắc và đề xuất các giải pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả giải quyết án Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

- Về hệ thống pháp luật:

Hệ thống văn bản pháp luật trực tiếp hướng dẫn việc xử lý tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy chưa cụ thể. Từ sau khi BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 có hiệu lực thi hành đến nay, chưa có văn bản hướng dẫn các tội phạm về ma túy, chủ yếu vẫn áp dụng tinh thần của Thông tư liên tịch số 17/2007, Thông tư liên tịch 08/2015 sửa đổi, bổ sung Thông tư liên tịch số 17/2007. Hiện nay, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã giải đáp một số nội dung liên quan đến tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, đã hướng dẫn một số khái niệm cơ bản về dấu hiệu “chỉ huy, phân công, điều hành”, “vai trò không đáng kể của người giúp sức”, “hành vi cung cấp” chất ma túy… nhưng đây chỉ là hướng dẫn tạm thời, chưa phải là văn bản pháp lý chính thức nên cần tổng hợp, nâng lên thành văn bản pháp luật có hiệu lực áp dụng rộng rãi hơn trong thực tế.

Cần hướng dẫn cụ thể về các khái niệm liên quan, dễ gây nhầm lẫn trong quá trình áp dụng pháp luật. Theo đó cần bổ sung khái niệm “người thụ hưởng là người được tổ chức cho sử dụng trái phép chất ma túy mà không phải đóng góp công sức hoặc giá trị vật chất khác ” trong nhóm tội này.

Cần quy định rõ hơn, đầy đủ hơn về hành vi “cung cấp chất ma túy” và trường hợp “bê đĩa ma túy đi mời người khác sử dụng” có phải là hành vi cung cấp chất ma túy hay không. Theo chúng tôi, việc xác định dấu hiệu hành vi cung cấp chất ma túy phải dựa vào nguồn gốc ma túy mà các đối tượng sử dụng do đâu mà có, nên trường hợp thực hiện hành vi bê đĩa ma túy mời người khác sử dụng không phải là trường hợp cung cấp chất ma túy mà chỉ là một hành vi trong diễn biến thông thường của việc sử dụng trái phép chất ma túy.

Bên cạnh đó cần có hướng dẫn cụ thể về những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự trong nhóm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Ngoài yếu tố nhân thân (những người nghiện tổ chức ma túy cho nhau sử dụng) thì cần bổ sung thêm yếu tố hành vi (trường hợp các đối tượng tổ chức sử dụng ma túy cho nhau mà không có người thụ hưởng) cũng được coi là trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự.

- Về yếu tố con người, chuyên môn nghiệp vụ:

Tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là một trong những tội danh đang diễn ra tương đối phổ biến trên phạm vi cả nước nhưng để xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự các đối tượng thực hiện hành vi phạm tội này còn gặp nhiều khó khăn. Trong đó, yếu tố năng lực trình độ, nhận thức pháp luật của những người tiến hành tố tụng cũng chưa thống nhất, còn nhiều cách hiểu khác nhau dẫn đến việc xử lý tội phạm này chưa triệt để.

Các dấu hiệu đặc trưng của tình trạng nghiện đối với mỗi loại ma túy là khác nhau. Do đó, đòi hỏi những cơ quan chuyên môn, đặc biệt là cơ quan y tế trong quá trình điều trị, theo dõi cắt cơn nghiện cần thường xuyên cập nhật các thông tin về các loại ma túy mới, những biểu hiện nghiện của người sử dụng loại ma túy cụ thể để thống kê, tổ chức học tập, bổ sung kiến thức cho cán bộ, công chức để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Từ đó, giúp cho các cơ quan pháp luật thuận tiện hơn trong việc xác định tình trạng nghiện ma túy của các đối tượng liên quan.

Việc điều tra, xử lý tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy đòi hỏi các ĐTV, KSV phải có kỹ năng, chuyên môn nghiệp vụ tốt. Một trong những điểm đặc biệt của tội danh này là mọi hoạt động điều tra, phân loại, xử lý ban đầu cần phải tiến hành nhanh, khẩn trương, kịp thời, đảm bảo tính chính xác, khách quan. Khi giải quyết án đòi hỏi ĐTV, KSV nhiệt tình, có tinh thần trách nhiệm cao, có kỹ năng làm việc tập thể khoa học, có khả năng tổng hợp, phân loại các đầu việc phải tiến hành điều tra một cách đồng thời, không bị chồng chéo và đảm bảo tiến độ nhanh chóng về thời gian. Do đó, Liên ngành tư pháp trung ương cần phải thường xuyên đào tạo, rèn luyện kỹ năng giải quyết loại án này cho các cán bộ, ĐTV, KSV.

- Về các yếu tố khác:

Cần tăng cường tuyên truyền pháp luật, tác hại của các loại ma túy đặc biệt là những loại ma túy mới trên hệ thống phương tiện thông tin đại chúng, loa truyền thanh tại các xã, phường, trị trấn để người dân hiểu và nâng cao kiến thức phòng chống ma túy. Xử lý nghiêm minh các nhóm đối tượng này để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế cho các cơ quan y tế và cơ quan Công an đặc biệt là trang bị que thử ma túy (loại test 04 chân) có thể xét nghiệm nhanh việc sử dụng ma túy của các đối tượng liên quan./.

 

TS. Nguyễn Thị Tuyết Nhung, Phó Viện trưởng

Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên

* TÀI LIỆU THAM KHẢO

STT

Tài liệu

1

Báo cáo tổng kết công tác các năm 2015-2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng;

2

Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, NXB Chính trị quốc gia sự thật, 2017.

3

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, NXB Chính trị quốc gia sự thật, 2017.

4

Công văn 89/TANDTC-PC ngày 30/6/2020 của Tòa án nhân dân tối cao thông báo kết quả giải đáp  một số vướng mắc trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự, hành chính và dân sự

5

Kỷ yếu Hội nghị tập huấn Công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự (Tài liệu giải đáp những khó khăn, vướng mắc - Vụ 7, Vụ 14), Vụ Thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự, ngày 12/11/2020.

6

Giải đáp vướng mắc về pháp luật và giải quyết các vụ án về tội phạm ma túy năm 2019-2020 của Văn phòng và Vụ Pháp chế và quản lý khoa học Viện kiểm sát nhân dân tối cao, 2020.

7

Luật Phòng, chống ma túy năm 2021

8

Tài liệu tập huấn Chẩn đoán xác định tình trạng nghiện ma túy và các phương pháp hỗ trợ điều trị nghiện ma túy ban hành ngày 20/10/2015 của Cục quản lý khám chữa bệnh - Bộ Y tế;

9

Thông tư liên tịch số 17/2015/TTLT-BYT-BLĐTBXH-BCA  ngày 09/7/2015 quy định thẩm quyền, thủ tục và quy trình xác định tình trạng nghiện ma túy

10

Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XVIII “Các tội phạm về ma túy” của BLHS năm 1999

11

Thông tư liên tịch số 08/2015/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 14/11/2015 sửa đổi bổ sung Thông tư liên tịch số 17/2007 ngày 24/12/2007

12

https://www.vinmec.com/vi/tin-tuc/thong-tin-suc-khoe/cac-chat-gay-nghien-ton-tai-bao-lau-trong-co/

13

https://nhandan.com.vn/cung-suy-ngam/nhieu-diem-moi-trong-cong-tac-phong-chong-ma-tuy-641800/

14

https://trangtinphapluat.com/blog/bai-viet-hay/gioi-thieu-van-ban-moi/diem-moi-cua-luat-phong-chong-ma-tuy-nam-2021/

15

http://baochinhphu.vn/Xa-hoi/Lam-ro-nhung-diem-moi-trong-du-luat-phong-chong-ma-tuy-sua-doi/409853.vgp



[1] Nguồn số liệu Thống kê của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng; Báo cáo tổng kết công tác các năm 2015-2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng.

[2] Bộ luật Hình sự năm 1999; Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 – NXB Chính trị Quốc gia.

[3] Thông tư liên tịch số 17/2015/TTLT-BYT-BLĐTBXH-BCA  ngày 09/7/2015 quy định thẩm quyền, thủ tục và quy trình xác đinh tình trạng nghiện ma túy (Điều 3);

[4] Tài liệu tập huấn Chẩn đoán xác định tình trạng nghiện ma túy và các phương pháp hỗ trợ điều trị nghiện ma túy  ban hành ngày 20/10/2015 của Cục quản lý khám chữa bệnh - Bộ Y tế;

[7] Giải đáp về những khó khăn vướng mắc trong công tác THQCT và KSXX hình sự - VKSNDTC ngày 12/11/2020 (mục 20, Phần Hình sự - phần các tội phạm);

[8] Công văn 89/TANDTC-PC ngày 30/6/2020 của Tòa án nhân dân tối cao thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc trong xét xử (phần I Hình sự, mục 1);

[9] Giải đáp vướng mắc về pháp luật và giải quyết các vụ án về tội phạm ma túy năm 2019-2020 của Văn phòng và Vụ Pháp chế và quản lý khoa học Viện kiểm sát nhân dân tối cao, 2020 (tr.17-18); Công văn 89/TANDTC-PC ngày 30/6/2020 của Tòa án nhân dân tối cao thông báo kết quả giải đáp  một số vướng mắc trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự, hành chính và dân sự (điểm 9 mục I. Hình sự).

[10] Điểm a mục 6.2 Phần II Tội phạm cụ thể Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XVIII “Các tội phạm về ma túy” của BLHS năm 1999.

[11] Điều 3 Thông tư liên tịch số 08/2015/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 14/11/2015 của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp sửa đổi bổ sung Thông tư liên tịch số 17/2007/ TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XVIII “Các tội phạm về ma túy” của BLHS; Điểm 8 Phần II - Giải đáp vướng mắc trong giải quyết các vụ án về tội phạm ma túy- Giải đáp vướng mắc về pháp luật và giải quyết các vụ án về tội phạm ma túy năm 2019, 2020, Văn Phòng và Vụ Pháp chế và quản lý khoa học Viện kiểm sát nhân dân tối cao, năm 2020, tr.56.

[12] Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, NXB Chính trị quốc gia sự thật, 2017.

[13] Giải đáp về những khó khăn vướng mắc trong công tác THQCT và KSXX hình sự - VKSNDTC ngày 12/11/2020 (mục 21, Phần Hình sự – những quy định chung);


Ứng dụng hỗ trợ nghiệp vụ
Tin tức
Thông tin cần biết
Thống kê truy cập
  • Đang online: 11
  • Hôm nay: 1439
  • Trong tuần: 11 443
  • Tất cả: 1 241 873
Trang thông tin điện tử: VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG - Cơ quan chủ quản: VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO
Địa chỉ: Lô 18A, Lê Hồng Phong, Hải An, TP Hải Phòng - Điện thoại: 02253.838308 - Fax: 02253.839072 - Email: vp_haiphong@vks.gov.vn
Trưởng ban biên tập: Phó Viện trưởng Lưu Xuân Sang
Số giấy phép: 03/GP-STTTT do Sở Thông tin và Truyền thông TP Hải Phòng cấp ngày 17 tháng 10 năm 2017 (Giấy phép có giá trị 10 năm)
Bản quyền thuộc về VKSND TP Hải Phòng - Thiết kế bởi VNPT | Quản trị