Một số vướng mắc trong xác định tiền án là tình tiết tăng nặng và định tội trong trường hợp Bản án trước đó tuyên bồi thường trách nhiệm dân sự nhưng bị hại không yêu cầu thi hành án

Thời gian qua, trong quá trình giải quyết một số vụ án mà bị can trộm cắp tài sản giá trị trên 2 triệu đồng hoặc dưới 2 triệu đồng nhưng trước đó bị can đều có 01 Bản án tuyên về hành vi Trộm cắp tài sản, cướp tài sản,… đã thi hành xong hình phạt tù, án phí, đã hết thời hạn coi như đương nhiên xoá án tích theo Điều 70 BLHS nhưng chưa thi hành phần bồi thường trách nhiệm dân sự còn một số khó khăn, trái quan điểm khi xác định tình tiết tăng nặng, định tội…

Nội dung vụ án: Khoảng 21 giờ 30 phút, ngày 04 tháng 4 năm 2025, Phạm Văn H, sinh năm 1991 thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của công ty Y trị giá là 15.655.000 đồng. H là đối tượng có 01 tiền án về tội Trộm cắp tài sản, theo bản án số 14 ngày 13 tháng 10 năm 2011 bị Tòa án huyện K xử phạt 5 năm 6 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản và buộc bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền 200.000.000 đồng. Năm 2017, H đã chấp hành xong hình phạt tù và án phí hình sự. Đến nay, H chưa thi hành phần bồi thường trách nhiệm dân sự cho người bị hại. Xác minh tại Chi cục thi hành án dân sự huyện K xác định Chi cục THADS không ra Quyết định thi hành án đối với khoản bồi thường cho bị hại nêu trên, do bị hại này không có đơn yêu cầu thi hành án và không thuộc trường hợp Chi cục THADS phải ra quyết định thi hành án chủ động. Xác minh, làm việc với người bị hại thì xác định người bị hại không yêu cầu H phải bồi thường số tiền trên. Trong thời gian trên, bị hại không gặp trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng để yêu cầu thi hành án.

anh tin bai

Ảnh minh hoạ

Quá trình giải quyết vụ án có khó khăn vướng mắc trong việc xác định tình tiết tăng nặng “tái phạm” đối với H. Có 2 quan điểm như sau:

Quan điểm thứ nhất cho rằng H chưa chấp hành xong toàn bộ Bản án do chưa thực hiện bồi thường trách nhiệm dân sự nên chưa được xoá án tích. Vì theo quy định tại Điều 70 của BLHS, quy định: “2. Người bị kết án đương nhiên được xóa án tích, nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn sau đây:…c) 03 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm;”. Đồng thời, Công văn số 64/TANDTC-PC ngày 03/4/2019 của Tòa án nhân dân Tối cao về việc Thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc về Hình sự, Dân sự và Tố tụng hành chính tại mục 7. “Người chấp hành án đã chấp hành xong hình phạt tù, đã đủ thời gian được xem là đương nhiên được xóa án tích theo quy định tại Điều 70 của Bộ luật Hình sự nhưng chưa thi hành hình phạt bổ sung, chưa nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm và các quyết định khác của bản án do không nhận được thông báo và quyết định thi hành án của Cơ quan thi hành án dân sự. Trường hợp này có được đương nhiên xóa án tích không? Điều 70 của Bộ luật Hình sự quy định về các điều kiện đương nhiên được xóa án tích, trong đó có điều kiện: người bị kết án nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách của án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án. Như vậy, Bộ luật Hình sự không quy định trường hợp loại trừ việc người bị kết án chưa chấp hành xong hình phạt bổ sung và các quyết định khác của bản án với bất kỳ lý do gì. Hơn nữa, pháp luật thi hành án dân sự quy định nhiều phương thức thi hành để người phải thi hành án có quyền lựa chọn như: tự nguyện thi hành, thỏa thuận thi hành án hoặc nhờ thân nhân nộp thay.

Do vậy, trường hợp người bị kết án (sau này là bị can, bị cáo trong một vụ án mới) không nhận được thông báo và quyết định thi hành án của Cơ quan thi hành án dân sự nên chưa thi hành hình phạt bổ sung, chưa nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm và các quyết định khác của bản án là chưa chấp hành xong hình phạt bổ sung và các quyết định khác của bản án. Trong trường hợp này, người bị kết án không đương nhiên được xóa án tích theo quy định tại Điều 70 của Bộ luật Hình sự”.

Trong trường hợp này, H chưa chấp hành xong một phần quyết định của Bản án nên H chưa được xoá án tích.

Quan điểm thứ hai cho rằng H đã được xoá án tích. Vì: Quá trình xác minh xác định đến nay, H chưa thi hành phần bồi thường trách nhiệm dân sự cho người bị hại. Nguyên nhân do Chi cục thi hành án dân sự huyện K không ra Quyết định thi hành án đối với khoản bồi thường cho bị hại nêu trên vì bị hại  không có đơn yêu cầu thi hành án và không thuộc trường hợp Chi cục THADS phải ra quyết định thi hành án chủ động. Xác minh, làm việc với bị hại thì bị hại xác định không yêu cầu H phải bồi thường số tiền trên.

Theo quy định của Điều 30 Luật Thi hành án dân sự quy định về thời hiệu thi hành án thì thời hiệu thi hành bản án là 5 năm kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật thì người được thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành… Trường hợp người yêu cầu thi hành án chứng minh được do trở ngại khách quan hoặc do sự kiện bất khả kháng mà không thể yêu cầu thi hành án đúng thời hạn thì thời gian trở ngại khách quan và sự kiện bất khả kháng không tính vào thời hiệu yêu cầu. Đối với trường hợp này, người bị hại có quyền định đoạt, yêu cầu thi hành án đối với H nhưng do họ không yêu cầu thì thời hiệu thi hành án (về quyền đòi tài sản) đã hết nên cần áp dụng nguyên tắc có lợi cho H để xác định việc xoá án tích của H.

Tác giả đồng tình với quan điểm thứ hai. Để thống nhất áp dụng pháp luật trong những trường hợp tương tự như trên, đề xuất Liên ngành tư pháp Trung ương cần có hướng dẫn một số nội dung, cụ thể:

Thứ nhất, nếu hết thời hiệu thi hành Bản án mà bị hại không yêu cầu thi hành án đối với phần trách nhiệm dân sự và không có trở ngại khách quan, sự kiện bất khả kháng ảnh hưởng đến việc yêu cầu thi hành án thì áp dụng nguyên tắc có lợi cho người phạm tội, không coi đây là tiền án để xác định tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Thứ hai, nếu hết thời hiệu thi hành Bản án mà Cơ quan Nhà nước không ra quyết định thi hành án (lỗi thuộc về Cơ quan Nhà nước, ví dụ Toà án không chuyển Bản án đến Cơ quan thi hành án hoặc Cơ quan thi hành án đã nhận được Bản án nhưng không ra quyết định thi hành) thì phải áp dụng nguyên tắc có lợi cho người phạm tội, không coi là tiền án.

Ngoài ra việc quy định như trên còn để áp dụng thống nhất đối những trường hợp người thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản có giá trị dưới 2.000.000 đồng, là một trong những tình tiết định tội quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 BLHS hoặc về 1 trong các tội quy định tại Điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này nhưng thuộc trường hợp hết thời hiệu thi hành án thì áp dụng có lợi, không coi đây là “tiền án”, là tình tiết định tội đối với người phạm tội.

Trên đây là bài viết trao đổi nghiệp vụ của tác giả, rất mong nhận được ý kiến trao đổi, phản biện của các đồng nghiệp./.

                                                                           

Phạm Thị Huệ

Phó Viện trưởng - VKSND khu vực 9

Ứng dụng hỗ trợ nghiệp vụ

Tin tức
Thông tin cần biết
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1

Trang thông tin điện tử: VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG - Cơ quan chủ quản: VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO
Địa chỉ: Lô 18A, Lê Hồng Phong, P. Hải An, TP Hải Phòng - Điện thoại: 02253.838308 - Fax: 02253.839072 - Email: vp_haiphong@vks.gov.vn
Trưởng ban biên tập: Phó Viện trưởng Nguyễn Mạnh Vỹ
Số giấy phép: 03/GP-STTTT do Sở Thông tin và Truyền thông TP Hải Phòng cấp ngày 17 tháng 10 năm 2017 (Giấy phép có giá trị 10 năm)
Bản quyền thuộc về VKSND TP Hải Phòng - Thiết kế bởi VNPT | Quản trị

Chung nhan Tin Nhiem Mang