Vai trò của VKSND trong bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong pháp luật tố tụng hình sự
Trong mô hình Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa Việt Nam, quyền con người và quyền công dân luôn được đặt tại vị trí
trung tâm, là giá trị cốt lõi của mọi hoạt động thực thi pháp luật. Hiến pháp
2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) và BLTTHS 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) đã
đặt ra những yêu cầu cao nhất đối với các cơ quan tư pháp nhằm thượng tôn pháp
luật và bảo vệ quyền tự do cá nhân. Với chức năng đặc thù là thực hành quyền
công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, VKSND đóng vai trò là "lá chắn"
ngăn chặn sự lạm quyền từ phía quyền lực nhà nước, đồng thời là cơ quan bảo chứng
cho sự công minh của công lý.
Thứ nhất, VKSND bảo đảm quyền bất khả xâm
phạm về thân thể, tính mạng, sức khỏe của công dân
Căn cứ theo nguyên tắc về suy đoán vô tội
(Điều 13) và bảo hộ tính mạng, sức khỏe (Điều 22), VKSND thực hiện quyền phê
chuẩn các lệnh bắt, tạm giữ, tạm giam một cách thận trọng. Việc xem xét kỹ lưỡng
căn cứ pháp lý trước khi phê chuẩn là cơ chế ngăn chặn tình trạng bắt giữ tùy
tiện ngay từ giai đoạn đầu. Đặc biệt, theo Điều 114, Kiểm sát viên phải trực tiếp
hỏi cung bị can trước khi phê chuẩn lệnh tạm giam nếu có dấu hiệu oan sai hoặc
bị can kêu oan.
Ngoài ra, VKSND đóng vai trò giám sát đối
với việc ghi âm, ghi hình có âm thanh trong hỏi cung bị can (Điều 183). Đồng thời,
thông qua hoạt động trực tiếp kiểm sát các nhà tạm giữ, trại tạm giam, VKSND đảm
bảo chế độ sinh hoạt của người bị giam giữ đúng pháp luật, và đặc biệt là không
có hành vi nhục hình, bức cung. Đặc biệt, cơ quan Điều tra của VKSNDTC là đơn vị
trực tiếp thụ lý các tội xâm phạm hoạt động tư pháp. Đây là công cụ quyền lực mạnh
mẽ để truy cứu trách nhiệm các cán bộ vi phạm, từ đó bảo vệ tối đa quyền lợi của
người đang trong vòng tố tụng.
Thứ hai, vai trò của VKSND trong việc bảo
đảm quyền được suy đoán vô tội và quyền bào chữa, kiểm sát quyền lực nhằm chống
oan sai, bỏ lọt tội phạm
Thực tiễn vai trò của
VKSND khu vực 8 trong việc bảo đảm quyền tranh tụng và bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của người bị hại và người tham gia tố tụng khác tại Tòa án.
Thực hành quyền công tố không đồng nghĩa với
việc buộc tội bằng mọi giá. Theo Điều 89, VKSND có trách nhiệm thu thập cả chứng
cứ buộc tội và chứng cứ gỡ tội. Nếu không đủ căn cứ, VKSND phải ra quyết định đình
chỉ vụ án hoặc rút quyết định truy tố để bảo vệ người vô tội.
VKSND có quyền và nghĩa vụ loại bỏ những
chứng cứ thu thập được thông qua các hành vi vi phạm pháp luật (bức cung, dùng
nhục hình). Việc kịp thời kháng nghị, kiến nghị các vi phạm tố tụng của cơ quan
điều tra giúp đảm bảo mọi bản án đều được xây dựng trên nền tảng pháp lý vững
chắc.
Thứ ba, vai trò của VKSND trong việc bảo đảm
quyền tranh tụng và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại và người
tham gia tố tụng khác
VKSND không chỉ tập trung vào bị can, bị
cáo mà còn bảo vệ người yếu thế (người bị hại, trẻ em, người dân tộc thiểu số,…)
thông qua kiểm sát việc tiếp nhận tin báo tố giác tội phạm và bảo đảm bồi thường
thiệt hại.
Ảnh minh họa về người yếu
thế sử dụng công nghệ AI – Sưu tầm
Căn cứ theo Điều 26 (Tranh tụng trong xét
xử được bảo đảm). Kiểm sát viên phải tranh tụng đến cùng dựa trên chứng cứ,
không được suy diễn chủ quan. Tại phiên tòa, nếu thấy việc buộc tội không có
căn cứ, Kiểm sát viên phải rút quyết định truy tố (Điều 285).
Từ đó cho thấy, vai trò của VKSND không phải
là một bên buộc tội thuần túy với bị cáo, mà là cơ quan đại diện cho pháp luật
để bảo đảm rằng: Tội phạm phải bị trừng trị, nhưng quyền con người phải được
tôn trọng. Sự nghiêm minh của VKSND chính là thước đo cho nền dân chủ tư pháp của
quốc gia.
Nguyễn
Linh Trang - VKSND khu vực 8 – Hải Phòng