Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Hải Phòng tổ chức phiên tòa trực tuyến kết hợp rút kinh nghiệm các vụ án hình sự về ma túy – Nâng cao chất lượng Thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử
“Tổ chức phiên tòa trực tuyến kết hợp rút kinh nghiệm
không chỉ là giải pháp về hình thức mà đang trở thành phương thức đào tạo tại
chỗ, giúp Kiểm sát viên nâng cao bản lĩnh, kỹ năng tranh tụng, qua đó đáp ứng
yêu cầu ngày càng cao của công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử
trong tình hình mới”
Trong tiến trình cải cách tư pháp, khi tranh tụng tại
phiên tòa ngày càng được xác định là trung tâm của hoạt động xét xử thì chất lượng
Thực hành quyền công tố không còn được đánh giá qua hồ sơ mà được kiểm chứng trực
tiếp bằng từng câu hỏi, từng lập luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Từ yêu cầu
đó, việc tổ chức các phiên tòa trực tuyến kết hợp rút kinh nghiệm không chỉ là
giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin mà còn là phương thức đào tạo thực tiễn,
đặt Kiểm sát viên vào môi trường “va chạm nghề nghiệp” để rèn luyện bản
lĩnh và kỹ năng.
Chiều ngày 24/3/2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực
4 – Hải Phòng đã phối hợp với Tòa án nhân dân khu vực 4 – Hải Phòng tổ chức
phiên tòa xét xử trực tuyến kết hợp rút kinh nghiệm đối với các vụ án hình sự về
ma túy. Phiên tòa được bố trí tại điểm cầu trung tâm tại Tòa án nhân dân khu vực
4 – Hải Phòng và điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố
Hải Phòng, bảo đảm tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật tố tụng, đồng thời
đáp ứng yêu cầu đổi mới phương thức tổ chức xét xử trong bối cảnh chuyển đổi số.
Điểm cốt lõi của phiên tòa không nằm ở yếu tố kỹ thuật
mà ở cách thức vận hành như một “không gian đào tạo tại chỗ”. Toàn bộ diễn biến
xét hỏi, công bố chứng cứ và tranh tụng được truyền tải liên tục, tạo điều kiện
để đội ngũ Kiểm sát viên theo dõi, đối chiếu và tự soi chiếu năng lực của mình
với yêu cầu thực tiễn. Những vụ án được lựa chọn đưa ra xét xử không nhất thiết
phức tạp về mặt diễn biến nhưng phải đặt ra các vấn đề pháp lý cần làm rõ, buộc
Kiểm sát viên phải thể hiện rõ năng lực đánh giá chứng cứ, phân định bản chất
hành vi và nhận diện chính xác vai trò của từng bị cáo, qua đó bảo đảm việc thực
hành quyền công tố được thực hiện một cách chủ động, chặt chẽ và có sức thuyết
phục.
Từ định hướng đó, hai vụ án được lựa chọn đưa ra xét
xử tại phiên tòa lần này không chỉ nhằm giải quyết đúng người, đúng tội, đúng
pháp luật mà còn được xem như những “tình huống nghiệp vụ điển hình”, qua đó đặt
ra yêu cầu trực tiếp đối với Kiểm sát viên trong việc làm rõ bản chất hành vi,
kiểm chứng giá trị chứng cứ và bảo vệ quan điểm truy tố trên cơ sở tranh tụng
công khai.
Theo nội dung Cáo trạng, diễn biến hành vi phạm tội
của các bị cáo được xác định như sau:
Vụ án thứ nhất: Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 09/9/2025, Vũ Mạnh Hiển
đã mua của một người không rõ lai lịch số ma túy Methamphetamine với giá
3.000.000 đồng nhằm mục đích vừa để sử dụng, vừa để bán kiếm lời. Sau khi mang
về, Hiển đã sử dụng một phần, số còn lại cất giấu trong người. Đến khoảng 11 giờ
00 phút ngày 10/9/2025, tại khu vực trước cửa nhà số 50 đường Chùa Vẽ, phường
Đông Hải, thành phố Hải Phòng, Hiển thực hiện hành vi bán cho Đặng Việt Đức 0,23
gam ma túy Methamphetamine với giá 300.000 đồng thì bị lực lượng chức năng phát
hiện, bắt quả tang. Tang vật thu giữ gồm nhiều túi nilon chứa tinh thể và viên
nén; kết luận giám định xác định toàn bộ là ma túy loại Methamphetamine, với tổng
khối lượng 4,14 gam, trong đó 0,23 gam là số ma túy đã bán cho Đức; 3,91 gam
còn lại Hiển cất giấu nhằm mục đích sử dụng.
Kết quả điều tra xác định, Đặng Việt Đức mua ma túy
của Hiển để sử dụng cho bản thân; cả hai bị cáo đều dương tính với chất ma túy.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm
tội; lời khai phù hợp với biên bản bắt quả tang, kết luận giám định và các tài
liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.
Vụ án đặt ra
yêu cầu phải phân định rõ bản chất pháp lý của từng hành vi: cùng một chủ thể
nhưng tồn tại đồng thời hành vi mua bán trái phép chất ma túy và hành vi tàng
trữ trái phép chất ma túy với mục đích sử dụng. Việc xác định chính xác ý chí của
bị cáo đối với từng phần ma túy là cơ sở quyết định để định tội danh đúng,
tránh việc đánh đồng hành vi dẫn đến sai lệch trong xử lý.
Trên cơ sở đó, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Hải
Phòng đã truy tố bị cáo Vũ Mạnh Hiển về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
theo quy định tại khoản 1 Điều 251 và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo
quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; bị cáo Đặng Việt Đức về tội
“Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 239 Bộ
luật Hình sự.
Vụ án thứ hai: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 14/01/2025, tại bè nổi số
hiệu HP242 thuộc khu vực Cát Bà, thành phố Hải Phòng, lực lượng Công an đã phát
hiện, bắt quả tang nhóm đối tượng có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma
túy. Tang vật thu giữ tại hiện trường gồm dụng cụ sử dụng ma túy tự chế, chất
ma túy dạng tinh thể và các vật chứng liên quan; kết quả giám định xác định đều
là Methamphetamine.
Kết quả điều tra xác định, Đỗ Minh Thắng là người giữ
vai trò trung tâm trong việc hình thành và tổ chức thực hiện hành vi phạm tội.
Thắng là người khởi xướng việc góp tiền mua ma túy, trực tiếp đi mua, chuẩn bị
dụng cụ sử dụng và điều hành việc sử dụng ma túy của nhiều người tại địa điểm
do Đinh Khắc Vũ quản lý. Quá trình tổ chức sử dụng ma túy được thực hiện có sự
bàn bạc, thống nhất giữa các đối tượng, với sự tham gia của nhiều người, thể hiện
đầy đủ các dấu hiệu đặc trưng của hành vi “tổ chức” trong cấu thành tội phạm.
Đáng chú ý, sau khi sự việc bị phát hiện, Đỗ Minh Thắng
đã bỏ trốn khỏi địa phương. Cơ quan điều tra đã ra quyết định truy nã; đến ngày
05/9/2025, Thắng bị bắt giữ. Quá trình khám xét nơi ở của bị can, lực lượng chức
năng tiếp tục phát hiện và thu giữ một lượng ma túy Methamphetamine có tổng khối
lượng 1,3 gam cùng các dụng cụ sử dụng ma túy. Kết luận giám định thể hiện toàn
bộ số chất thu giữ đều là ma túy, củng cố thêm căn cứ xác định hành vi tàng trữ
trái phép chất ma túy của bị cáo..
Ngoài các chứng cứ vật chất, dữ liệu điện tử thu thập
từ điện thoại của các đối tượng thể hiện rõ nội dung trao đổi về việc góp tiền
mua ma túy, thống nhất địa điểm và thời gian sử dụng. Đây là nguồn chứng cứ
quan trọng, phản ánh trực tiếp ý chí chủ quan cũng như quá trình hình thành
hành vi phạm tội, có giá trị chứng minh cao trong việc làm rõ vai trò của từng
bị cáo.
Từ những tài liệu, chứng cứ đã được thu thập và thẩm
tra, vụ án đặt ra yêu cầu pháp lý trọng tâm là phải làm rõ dấu hiệu “tổ chức sử
dụng trái phép chất ma túy” – yếu tố quyết định trong việc định tội danh. Thông
qua hoạt động Thực hành quyền công tố, Kiểm sát viên đã tập trung làm rõ vai
trò chủ mưu của bị cáo Đỗ Minh Thắng thông qua các hành vi cụ thể: khởi xướng,
rủ rê, góp tiền, chuẩn bị địa điểm, phương tiện và trực tiếp điều hành việc sử
dụng ma túy của nhiều người. Đồng thời, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy
sau khi bị truy nã tiếp tục được làm rõ, bảo đảm việc xử lý toàn diện, đúng bản
chất hành vi phạm tội.
Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo
Đỗ Minh Thắng và các đối tượng liên quan đều thừa nhận hành vi phạm tội; lời
khai phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, dữ
liệu điện tử và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Vụ án đặt ra yêu cầu phải làm rõ dấu hiệu “tổ chức”
trong cấu thành tội phạm, thể hiện qua việc rủ rê, góp tiền, chuẩn bị địa điểm,
phương tiện và điều hành việc sử dụng ma túy của nhiều người. Việc nhận diện
đúng vai trò của từng bị cáo trong chuỗi hành vi này có ý nghĩa quyết định
trong việc định tội và áp dụng khung hình phạt.
Trên cơ sở đó, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Hải
Phòng đã truy tố bị cáo Đỗ Minh Thắng về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma
túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 và tội “Tàng trữ trái phép chất
ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Từ những tình tiết đã được xác định trong Cáo trạng,
yêu cầu đặt ra tại phiên tòa không chỉ dừng lại ở việc kiểm tra lại chứng cứ mà
quan trọng hơn là làm rõ bản chất pháp lý của từng hành vi thông qua hoạt động
xét hỏi và tranh tụng. Trong quá trình đó, vai trò của Kiểm sát viên không chỉ
là người giữ quyền công tố mà còn là chủ thể định hướng việc làm rõ sự thật
khách quan của vụ án.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực
4 – Hải Phòng đã chủ động tham gia xét hỏi với phương pháp tiếp cận rõ ràng, có
trọng tâm, bám sát những vấn đề cốt lõi đã được đặt ra từ giai đoạn truy tố.
Đối với vụ án thứ nhất, hoạt động xét hỏi không dừng
lại ở việc xác nhận hành vi mua bán và tàng trữ trái phép chất ma túy mà được
triển khai theo hướng phân tách ý chí phạm tội đối với từng phần ma túy cụ thể.
Thông qua hệ thống câu hỏi có tính dẫn dắt, Kiểm sát viên làm rõ thời điểm chiếm
giữ, mục đích sử dụng hay trao đổi đối với từng lượng ma túy, qua đó xác định
ranh giới pháp lý giữa hành vi “mua bán trái phép chất ma túy” và “tàng trữ
trái phép chất ma túy” – yếu tố then chốt quyết định việc định tội danh chính
xác, tránh đánh đồng hành vi.
Đối với vụ án thứ hai, trọng tâm xét hỏi được đặt
vào việc làm rõ dấu hiệu “tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” trong cấu
thành tội phạm. Kiểm sát viên đi sâu phân tích vai trò của bị cáo Đỗ Minh Thắng
trong toàn bộ quá trình phạm tội, từ khâu khởi xướng, rủ rê, góp tiền, trực tiếp
mua ma túy, chuẩn bị công cụ, địa điểm đến việc điều hành quá trình sử dụng. Việc
làm rõ chuỗi hành vi có tính liên kết này không chỉ khẳng định vai trò chủ mưu
mà còn là cơ sở quan trọng để phân hóa trách nhiệm hình sự đối với các đối tượng
liên quan.
Đáng chú ý, trong điều kiện phiên tòa được tổ chức
trực tuyến tại hai điểm cầu, Kiểm sát viên vẫn bảo đảm kiểm soát tốt diễn biến
xét hỏi, truyền đạt rõ ràng, mạch lạc, bảo đảm việc công bố, thẩm tra chứng cứ
và tranh tụng diễn ra liên tục, không bị gián đoạn. Điều này không chỉ đòi hỏi
sự chuẩn bị kỹ lưỡng về nội dung mà còn thể hiện bản lĩnh nghề nghiệp và khả
năng thích ứng với phương thức xét xử mới.
Trên cơ sở kết quả xét hỏi, phần luận tội của Kiểm
sát viên được xây dựng theo hướng tranh tụng thực chất, không lặp lại nội dung
Cáo trạng mà tập trung phân tích bản chất pháp lý của hành vi phạm tội dựa trên
hệ thống chứng cứ đã được kiểm tra công khai tại phiên tòa. Các luận điểm được
trình bày rõ ràng, có căn cứ, đi thẳng vào những vấn đề có thể phát sinh tranh
luận, đặc biệt là yếu tố mục đích trong vụ án thứ nhất và dấu hiệu “tổ chức”
trong vụ án thứ hai.
Ở vụ án thứ nhất, Kiểm sát viên làm rõ yếu tố mục
đích – căn cứ quan trọng để phân biệt giữa hành vi mua bán và tàng trữ trái
phép chất ma túy. Ở vụ án thứ hai, trọng tâm được đặt vào việc chứng minh dấu
hiệu “tổ chức” thông qua chuỗi hành vi cụ thể, qua đó khẳng định vai trò chủ
mưu của bị cáo. Quá trình đối đáp được thực hiện với tinh thần tranh tụng thực
chất, lập luận rõ ràng, có căn cứ, thể hiện khả năng bảo vệ quan điểm truy tố một
cách thuyết phục. Đây cũng là cơ sở để Hội đồng xét xử đánh giá khách quan,
toàn diện vụ án khi đưa ra phán quyết.
Kết thúc phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuyên phạt
các bị cáo với mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành
vi phạm tội, đồng thời phù hợp với quan điểm truy tố và đề nghị của Viện kiểm
sát. Cụ thể, đối với vụ án thứ nhất, bị cáo Vũ Mạnh Hiển bị tuyên phạt 3 năm 6
tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 4 năm 3 tháng tù về tội
“Tàng trữ trái phép chất ma túy”; bị cáo Đặng Việt Đức bị tuyên phạt 3 năm 9
tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đối với vụ án thứ hai, bị cáo
Đỗ Minh Thắng bị tuyên phạt 9 năm 6 tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép
chất ma túy và 4 năm về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tổng hình phạt đối
với bị cáo Thắng là 13 năm 6 tháng tù.
Việc phán quyết của Tòa án thống nhất với quan điểm
truy tố và luận tội của Viện kiểm sát không chỉ khẳng định tính đúng đắn trong
đánh giá chứng cứ, áp dụng pháp luật mà còn phản ánh chất lượng thực hành quyền
công tố đã được chuẩn bị công phu, có căn cứ và có sức thuyết phục. Đây là kết
quả của quá trình theo dõi chặt chẽ diễn biến vụ án từ giai đoạn điều tra, truy
tố đến xét xử, bảo đảm tính liên thông và nhất quán trong nhận định pháp lý.
Tại phiên tòa, các bị cáo đều thừa nhận toàn bộ hành
vi phạm tội, thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và xin được
giảm nhẹ hình phạt. Tuy nhiên, việc buộc tội không chỉ dừng lại ở lời nhận tội
mà được kiểm chứng bằng hệ thống chứng cứ đã được thẩm tra công khai, cùng với
quá trình xét hỏi và tranh tụng chặt chẽ của Kiểm sát viên. Chính việc làm rõ sự
thật vụ án trên cơ sở chứng cứ đã tạo nền tảng vững chắc cho phán quyết của Hội
đồng xét xử, bảo đảm nguyên tắc khách quan, toàn diện và đúng pháp luật.
Ngay sau khi kết thúc phiên tòa, Viện kiểm sát nhân
dân khu vực 4 – Hải Phòng đã tổ chức họp rút kinh nghiệm với sự tham dự của
lãnh đạo đơn vị và toàn thể Kiểm sát viên, công chức. Khác với cách làm mang
tính hình thức, cuộc họp được triển khai theo hướng đi thẳng vào những vấn đề cốt
lõi của hoạt động thực hành quyền công tố tại phiên tòa. Trên cơ sở theo dõi
toàn bộ diễn biến tại các điểm cầu, từng nội dung nghiệp vụ được mổ xẻ một cách
cụ thể, từ việc xây dựng Cáo trạng, dự kiến tình huống tranh tụng, kỹ năng xét
hỏi, công bố chứng cứ đến phương pháp luận tội và đối đáp. Việc đánh giá không
dừng lại ở nhận xét chung mà gắn trực tiếp với từng tình huống phát sinh tại
phiên tòa, qua đó làm rõ cách xử lý đã phù hợp hay chưa, mức độ thuyết phục của
lập luận cũng như khả năng kiểm soát diễn biến tranh tụng của Kiểm sát viên.
Phát biểu chỉ đạo tại cuộc họp, đồng chí Nguyễn Tuấn
Khanh – Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Hải Phòng đơn vị nhấn mạnh:
rút kinh nghiệm sau phiên tòa phải được xác định là một khâu công tác nghiệp vụ
có tính bắt buộc, là “bước kiểm định chất lượng” đối với hoạt động thực hành
quyền công tố, chứ không phải hoạt động bổ trợ. Mỗi Kiểm sát viên cần chủ động
tự soi chiếu quá trình tham gia xét xử của mình, từ khâu nghiên cứu hồ sơ, xây
dựng kế hoạch xét hỏi đến kỹ năng tranh tụng tại phiên tòa; đồng thời phải nâng
cao năng lực dự báo, kịp thời xử lý các tình huống phát sinh, bảo đảm giữ vững
vai trò chủ động trong quá trình làm rõ sự thật vụ án. Đồng chí cũng yêu cầu việc
rút kinh nghiệm phải đi vào thực chất, chỉ rõ từng ưu điểm, tồn tại gắn với từng
khâu công tác, từ đó đề ra giải pháp khắc phục cụ thể, khả thi, có thể áp dụng
ngay trong thực tiễn.
Qua đó có thể thấy, công tác rút kinh nghiệm không
chỉ dừng lại ở việc tổng kết một phiên tòa mà thực sự trở thành công cụ quan trọng
để nâng cao chất lượng đội ngũ Kiểm sát viên. Khi mỗi phiên tòa được “soi chiếu
lại” một cách nghiêm túc, thẳng thắn và có định hướng thì đó cũng chính là quá
trình tích lũy kinh nghiệm thực tiễn, góp phần chuẩn hóa kỹ năng nghề nghiệp,
đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công tác Thực hành quyền công tố và kiểm sát
xét xử trong tình hình mới.
Từ kết quả phiên tòa và nội dung rút kinh nghiệm cho
thấy, chất lượng Thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử án hình sự không được
quyết định bởi hồ sơ dày hay mỏng mà nằm ở khả năng Kiểm sát viên làm chủ chứng
cứ, làm chủ diễn biến tranh tụng và bảo vệ quan điểm truy tố bằng lập luận có
căn cứ, có sức nặng. Khi mỗi phiên tòa được nhìn nhận như một “bài kiểm tra thực
tiễn” thì công tác rút kinh nghiệm chính là thước đo trực tiếp của năng lực nghề
nghiệp.
Việc duy trì nền nếp tổ chức các phiên tòa trực tuyến
gắn với rút kinh nghiệm theo hướng thực chất đã và đang tạo ra sự chuyển biến
rõ nét trong phương pháp công tác, từ tư duy xử lý hồ sơ sang tư duy tranh tụng
tại phiên tòa. Đây không chỉ là yêu cầu trước mắt, mà là hướng đi lâu dài nhằm
xây dựng đội ngũ Kiểm sát viên có bản lĩnh, vững chuyên môn, đáp ứng yêu cầu
ngày càng cao của công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, đặc biệt đối với tội
phạm về ma túy đang diễn biến phức tạp hiện nay.
Một số hình ảnh tại phiên tòa:
| |
Nguyễn
Thị Diệu Ngọc
Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 |