Trao đổi về nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án “Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con” trong trường hợp hòa giải thành trước khi đưa vụ án ra xét xử
Như chúng ta đã biết, nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án “Tranh chấp xác định cha, mẹ cho con” được quy định cụ thể tại điểm b khoản 2 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/2/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án, tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án và tiểu mục 11 Mục IV Công văn số 89/TANDTC-PC ngày 30/6/2020 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn: Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con là thuộc trường hợp tranh chấp quy định tại khoản 4 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự cho nên đây là loại án hôn nhân và gia đình; tuy nhiên Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 không quy định cụ thể về án phí đối với loại tranh chấp này cho nên phải áp dụng khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án căn cứ quy định tại khoản 1, khoản 4 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14: “Đương sự phải chịu án phí sơ thẩm nếu yêu cầu của họ không được Tòa án chấp nhận, trừ trường hợp được miễn hoặc không phải chịu án phí sơ thẩm...Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với phần yêu cầu không được Tòa án chấp nhận. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với phần yêu cầu của nguyên đơn đối với bị đơn được Tòa án chấp nhận” để tính án phí, trừ trường hợp quy định tại Điều 11, Điều 12, Điều 13 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14.

Trường hợp xin xác định cha, mẹ cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự thì được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14.

Như vậy, theo hướng dẫn này, việc xác định nghĩa vụ nộp án phí dân sự khi giải quyết tranh chấp xác định cha, mẹ cho con được chia làm hai trường hợp:

- Trường hợp thứ nhất: Xác định cha mẹ cho con đã thành niên thì nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với phần yêu cầu không được Tòa án chấp nhận và ngược lại bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm trong trường hợp toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận, trừ trường hợp được miễn hoặc không phải chịu án phí sơ thẩm.

- Trường hợp thứ hai: Xác định cha, mẹ cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự thì người yêu cầu được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí 

Do đó, đối với vụ án “Tranh chấp xác định cha, mẹ cho con” chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự mà không hòa giải được và phải đưa ra xét xử thì bị đơn phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Tuy nhiên, đối với trường hợp các bên đương sự thỏa thuận giải quyết được vụ án trước khi mở phiên tòa thì nghĩa vụ chịu án phí được quy định tại khoản 3 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự như sau: “Trước khi mở phiên tòa, Tòa án tiến hành hòa giải; nếu các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án thì họ chỉ phải chịu 50% mức án phí sơ thẩm quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này”. Đồng thời, khoản 7 Điều 26 Nghị quyết số 326 quy định: “Các bên đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án trong trường hợp Tòa án tiến hành hòa giải trước khi mở phiên tòa thì phải chịu 50% mức án phí, kể cả đối với các vụ án không có giá ngạch”. Quy định về nghĩa vụ chịu án phí như vậy nhưng trên thực tế vẫn còn có 02 quan điểm khác nhau.

- Quan điểm thứ nhất: Trong vụ án tranh chấp xác định cha, mẹ cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự, khi xét xử nguyên đơn được miễn nộp án phí, đồng nghĩa với việc bị đơn phải chịu 300.000 đồng án phí. Vì vậy, khi hòa giải thành thì nguyên đơn do thuộc trường hợp được miễn án phí, nên bị đơn phải chịu 150.000 đồng.

- Quan điểm thứ hai: Khi hòa giải thành, các đương sự phải chịu 150.000 đồng. Nhưng nguyên đơn được miễn nộp án phí nên bị đơn chỉ phải nộp 75.000 đồng án phí.

Tuy nhiên, tác giả nhận thấy quan điểm thứ hai sẽ hợp lý hơn và cần được vận dụng vì: cụm từ “họ chỉ phải chịu 50% mức án phí sơ thẩm” hay “phải chịu 50% mức án phí, kể cả đối với các vụ án không có giá ngạch” cần phải hiểu, họ ở đây bao gồm tất cả các bên đương sự - nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (nếu có) khi tham gia vào quá trình hòa giải tranh chấp trong vụ án chứ không phải chỉ riêng một bên đương sự có nghĩa vụ. Vì vậy, nguyên đơn và bị đơn mỗi bên phải chịu 25% án phí tương ứng với 75.000 đồng. Do nguyên đơn được miễn nộp án phí nên bị đơn chỉ phải nộp 75.000 đồng án phí.

Trên đây là một số cách hiểu khác nhau về việc xác định nghĩa vụ nộp án phí dân sự khi giải quyết tranh chấp xác định cha, mẹ cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự trong trường hợp hòa giải thành trước khi đưa vụ án ra xét xử mà tác giả muốn đưa ra trao đổi để việc áp dụng pháp luật được thống nhất.

                                                    Tô Thị Hoài Thu – Kiểm sát viên, VKSNQ quận Ngô Quyền


Ứng dụng hỗ trợ nghiệp vụ
Tin tức
Thông tin cần biết
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1

Trang thông tin điện tử: VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG - Cơ quan chủ quản: VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO
Địa chỉ: Lô 18A, Lê Hồng Phong, Hải An, TP Hải Phòng - Điện thoại: 02253.838308 - Fax: 02253.839072 - Email: vp_haiphong@vks.gov.vn
Trưởng ban biên tập: Phó Viện trưởng Lưu Xuân Sang
Số giấy phép: 03/GP-STTTT do Sở Thông tin và Truyền thông TP Hải Phòng cấp ngày 17 tháng 10 năm 2017 (Giấy phép có giá trị 10 năm)
Bản quyền thuộc về VKSND TP Hải Phòng - Thiết kế bởi VNPT | Quản trị

Chung nhan Tin Nhiem Mang